TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 THƠ VĂN GIÁO LÝ

 


PHONG KIỀU DẠ BẠC
Trương Kế
Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Trương Kế

Việt Dịch

Trăng tà tiếng quạ kêu sương 
Lửa chài cây bên sầu vương giấc hồ 
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Thi sĩ Tản Đà dịch 
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 115, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957)
 

Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Nguyễn Hàm Ninh 
(Tạp chí Văn Học, số 191, tháng 03 năm 2002, trang 36.)
 

Trăng tà, tiếng quạ vẳng sương rơi,
Sầu đượm hàng phong, giấc lửa chài.
Ngoài lũy Cô Tô, chùa vắng vẻ,
Nửa đêm chuông vẳng đến thuyền ai.
Trần Trọng San 
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 116, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957.)

Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều .
Trần Trọng San (?)
 

Mồng ba mồng bốn trăng mờ,
Nửa dường móc bạc, nửa như cung trời.
Một bình ngọc trắng chia hai,
Nửa chìm đáy nước, nửa cài từng không. 
Hàn Sơn Thập Đắc (?)
(Thơ Đường, Trần Trọng San, cuốn một, trang 116, nxb Bắc Đẩu, in lần thứ ba 1972, lần hai 1966, lần một 1957)
Nguyên văn chữ Hán:
Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung, 
Bán tự ngân câu, bán tự cung. 
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn, 
Bán trầm thủy để, bán phù không. 
 

Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui, 
Đèn chài, cây bãi, đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya
Ngô Tất Tố 
(Đại Cương Văn Học sử Trung Quốc, quyển 2, trang 235, Nguyễn Hiến Lê) 
 

Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co,
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
Trần Trọng Kim
(Đại Cương Văn Học sử Trung Quốc, quyển 2, trang 235, Nguyễn Hiến Lê) 
 

Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương
Phong bãi, đèn câu đắm mộng trường
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu
Chuông Hàn San tự thoảng đưa sang.
Hữu Nguyên
 

J. Leiba cũng có một bài thơ rất du dương mà ý như mượn của 
Trương Kế: 

Thuyền dạo hồ Đông muôn dặm chơi,
Quạ kêu, trang lặn, nước mờ khơi .
Hàn San vẳng tiếng chuông chùa sớm,
Cây bến, đèn ngư, não mộng người .