Phiên
âm:
Khuê
oán
Thụy
khởi câu liêm khán trụy hồng,
Hoàng
li bất ngữ oán Đông phong.
Vô
đoan lạc nhật tây lâu ngoại
Hoa
ảnh chi đầu tận hướng Đông.
dịch
nghĩa:
Niềm
oán hận của người khuê phụ
Ngủ
dậy, cuốn mành xem cánh hồng rụng,
Chim
oanh vàng bặt tiếng, oán gió đông (1)
Không
dưng mặt trời lặn phía ngoài lầu Tây,
Đầu
cành bóng hoa đều hướng về phía đông.
dịch
thơ:
Tỉnh
giấc, rèm nâng, ngó rụng hồng,
Hoàng
oanh im tiếng, giận đông phong.
Lầu
Tây vô cớ, vầng dương lặn,
Cả
bóng hoa cành ngả hướng đông.
Trần
lê Văn dịch
(1)
Gió đông: Tức gió xuân. Trời đã sang hè, chim hoàng oanh không
hót vì oán mùa xuân đã qua, gió xuân không tới nữa.
Phiên
âm:
thiên
trường vãn vọng
Thôn
hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán
vô bán hữu tịch dương biên.
Mục
đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch
lộ song song phi hạ điền.
Dịch
nghĩa:
ngắm
cảnh chiều ở thiên trường
Trước
thôn, sau thôn đều mờ mờ như khói phủ,
Bên
bóng chiều [cảnh vật] nửa như có, nửa như không.
Trong
tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết,
Từng
đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng.
Dịch
thơ:
Trước
xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng
chiều dường có lại dường không.
Mục
đồng sáo vẳng, trâu về hết,
Cò
trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Theo
ngô tất tố
(Văn
học đời Trần)
Phiên
âm:
Tảo
Mai
I
Ngũ
xuất viên ba kim niễn tu,
San
hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá
tam đông bạch chi tiền diện,
Tả
nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam
lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ
quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng
Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế
lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu!
II
Ngũ
nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông
phong tiên dĩ đáo cô côn (căn).
ảnh
hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa
áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy
vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Họa
long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất
chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác
hậu bất kham trì tặng quân.
dịch
nghĩa:
Hoa
Mai Sớm
I
Năm
cánh hoa tròn nhị điểm vàng,
[Như]
bóng san hô chìm, [như] vảy cá biển nổi.
Cành
hoa trắng xóa suốt trong ba tháng đông,
Sang
đầu xuân chỉ còn loáng thoáng một vài cánh thơm nhẹ.
Móc
ngọt chảy mùi thơm làm chú bướm si ngây tỉnh giấc,
ánh
sáng ban đêm như nước khiến con chim khát buồn rầu.
Nếu
Hằng Nga(1) biết được vẻ đẹp thanh nhã của hoa mai,
Thì
có ưa gì cây quế với cung thiềm(2) lạnh lẽo.
II
Chỉ
năm ngày sợ rét lười ra khỏi cửa,
Mà
gió xuân đã sớm đến với gốc cây cô đơn.
Bóng
ngả trên mặt nước, băng giá bắt đầu tan,
Hoa
trĩu nặng đầu cành, hơi ấm chưa định rõ.
Giọng
ca Thúy vũ(3) lắng chìm mặt trăng xóm núi.
Tiếng
sáo Họa long(4) ẩm ướt đám mây Ngọc Quan(5).
Một
cành hoa lạc vào giấc mộng cố nhân,
Tỉnh
dậy, không thể đem tặng anh được(6).
dịch
thơ:
i
Năm
cánh hoa tròn, vàng nhị phô,
Nổi
nênh vảy cá, chìm san hô.
Đông
ba tháng trải, cành khoe trắng,
Xuân
một làn thơm, nhánh nhẹ đưa.
Đêm
ngỡ nước trong, chim cháy cổ,
Sương
lừng hương ngát, bướm tan mơ
Hằng
Nga như biết đây hoa đẹp,
Quế
lạnh cung Thiềm, há mến ưa?
iI
Năm
ngày ngại rét, lười ra cửa.
Gốc
lẻ nào ngờ đã gió xuân.
Mặt
nước băng tan, cây bóng ngả,
Đầu
cành hoa trĩu, ấm chưa phân.
Trăng
chìm xóm núi, lời ca bổng,
Mây
ướt quan hà, tiếng sáo ngân.
Lạc
tới chiêm bao, hoa một nhánh,
Muốn
đem tặng bạn, khó vô ngần!
trần
lê văn dịch
Chú
Thích:
(1)
Hằng Nga: Theo sách Hậu Hán thư, vợ Hậu Nghệ là Hằng Nga
(còn có tên là Thường Nga) lấy trộm thuốc trường sinh của
chồng rồi bay lên cung trăng, bị hóa thành con cóc (thiềm
thừ). Do đó mặt trăng có tên là cung thiềm.
(2)
Cây quế: Sách Dậu dương tạp trở chép: trong trăng có cây
quế, cao 500 trượng. Vì thế cung quế cũng là tên gọi mặt
trăng.
(3)
Thúy vũ: Tức thúy vũ ngâm, tên một từ khúc. Cung điệu của
khúc ngâm này còn thấy ở bài Trúc sơn từ của Tưởng Tiệp.
Lời đề tựa của ông nói: Vương Quân Bản trao cho ta một
khúc hát theo Việt điệu tên là Tiểu mai hoa dẫn, bảo ta
lấy ý bay lên tiên, bước trong cõi hư không mà làm lời cho
khúc hát...
(4)
Họa Long: Có lẽ là một loại sáo hay tù và có vẽ hình con
rồng. Từ hải dẫn lời của Thẩm Ước, Từ Quảng nói rằng
tù và của người Hồ chỗ tay cầm vẽ con giao long có chân
năm sắc.
(5)
Ngọc Quan: Tên một cửa ải trên đường đi sang Tây Vực
thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. ở đây tác giả mượn để
miêu tả tiếng sáo Họa Long làm ẩm ướt cả đám mây trên
cửa ải.
(6)
Hai câu cuối lấy ý trong điển Nhất chi xuân, rút từ câu
thơ của Lục Khải tặng Phạm Việp: Chiết mai phùng dịch
sử, Ký dữ lũng đầu nhân, Giang Nam hà sở hữu.Liêu tặng
nhất chi xuân; nghĩa là: bẻ cành hoa mai, gặp được người
đưa thư trạm, gửi cho người ở Lũng Đầu. Đất Giang Nam
có gì đâu, hãy tặng anh một cành xuân.Nhưng ở đây tác
giả chỉ có cành mai trong giấc mộng nên không thể đem tặng
bạn được.