TRẦN NHÂN TÔNG
THƠ VÀ CUỘC ĐỜI
Trần
Nhân Tông tên là Khâm, còn có tên là Phật Kim và Nhật Tôn,
Nhân Tông là thụy hiệu. Ông là con trưởng Trần Thánh Tông,
sinh ngày 11 tháng Mười Một năm Mậu Ngọ (7-12-1258), làm vua
từ Kỷ mão (1279) đến Quý tî (1293), niên hiệu là Thiệu
Bảo (1279-1284) và Trùng Hưng (1285-1293). Mất ngày 3 tháng Mười
Một, năm Mậu Thân (16-11-1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử.
Nhân
Tông làm vua thời kỳ đất nước đứng trước hiểm họa
xâm lược. Ông đã cùng vua cha lãnh đạo triều đình và dân
chúng giành thắng lợi trong hai lần đọ sức với 50 vạn
quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh (1285 và 1288). Ông là
một vị vua nổi tiếng khoan hòa, nhân ái, đã xây dựng được
khối đoàn kết từ trong hoàng tộc đến ngoài muôn dân. Dưới
triều đại ông có hai sự kiện lớn liên quan đến vận mệnh
đất nước được các sử gia cổ kim đánh giá rất cao, đó
là Hội nghị tướng lĩnh, vương hầu ở Bình Than và Hội
nghị các bô lão ở thềm điện Diên Hồng để bàn kế đánh
giặc. Ông còn là nhà văn hóa, nhà thơ xuất sắc thời Trần.
Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm, đáp ứng một nhu
cầu sinh hoạt tinh thần của người Việt đương thời, đồng
thời nhằm xây dựng một nước Đại Việt có nền văn hóa,
văn minh độc lập, một quốc gia hùng mạnh về các mặt.
Nhân Tông là một vị vua yêu nước và anh hùng, là Đệ nhất
tổ của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Ông sáng tác nhiều,
bao gồm: Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải ấn thi
tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mî ngữ, nhưng hiện chỉ
còn 31 bài thơ, một số cặp câu thơ lẻ và hai bài phú Nôm.
Trong
mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một
ông vua giỏi và tài hoa. Lịch sử đã xem ông là "vị vua hiền"
đời Trần, có công trong sự nghiệp trùng hưng đất nước.
Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu
sắc và không kém hào hùng.
Nhân
Tông lên ngôi năm 1278, mới hai mươi tuổi. Nhà Trần lúc này
đã bước vào thời kỳ ổn định, đất nước hòa bình;
luật pháp thi cử học hành đều đã vào nền nếp..., được
sử sách coi là thời kỳ thịnh trị. Song khó khăn đối với
Nhân Tông là việc đối ngoại. Nhà Nguyên đã diệt xong nước
Tống, bắt đầu tính đến phương Nam, thường xuyên gây sức
ép và cuối cùng là hai cuộc xâm lăng năm 1285 và 1287. Chưa
đầy năm năm phải đương đầu với hai trận tấn công ồ
ạt của "giặc mạnh" có đủ quân thủy, quân bộ, quân kî
và mỗi lần con số đều không dưới 50 vạn không phải là
việc dễ. Song Trần Nhân Tông đã "cố kết" được lòng dân,
phát huy được năng lực của các tướng, động viên được
tài trí của cả nước đánh thắng giặc, bảo vệ nền độc
lập cho nước nhà. Quả là trong kháng chiến chống ngoại
xâm, Trần Nhân Tông là một anh hùng tiêu biểu. Những năm
sau đó bước vào công cuộc xây dựng lại đất nước đã
bị tàn phá, Nhân Tông một mặt lo tổng kết việc đánh giặc
thưởng công, ghi Trung hưng thực lục, một mặt lo tiếp tục
đối phó với cuộc tấn công phục thù của địch và làm
cho nước mạnh dân giàu. Hơn mười bốn năm làm vua (1278-1293),
cũng là cả thời trai trẻ, Nhân Tông đã dành phần lớn tâm
sức cho công cuộc chống giặc Nguyên. Hết những ngày chinh
chiến xông pha tên đạn lại đến những cuộc tiếp sứ căng
thẳng gay gắt mà thái độ mềm dẻo và nguyên tắc cứng
rắn đều phải đạt đến độ hoàn thiện. Thông thường
mỗi khi một giai đoạn lịch sử đã đóng lại, đời sau
dễ phát hiện ra những ưu khuyết điểm của người xưa,
dễ dàng chỉ ra những việc nên làm và chẳng nên làm... Song,
nếu nghĩ rằng Trần Nhân Tông khi đó chỉ mới trên dưới
ba mươi tuổi, đã phải gánh vác trách nhiệm quyết định
những việc lớn lao liên quan đến chuyện mất còn của cả
dân tộc thì mới thấy hết bản lĩnh và tài năng của ông
vua trẻ này. Nhất là kẻ thù của ông đâu phải bất tài!
Hốt Tất Liệt đã lão luyện trong nghề chiến trận, giặc
Thát là một đội quân đang ngang dọc vẫy vùng. Và khi đã
đứng vững trên mảnh đất Trung Hoa, Hốt Tất Liệt còn có
cả một đội ngũ văn thần, nhiều người từng là nhà ngoại
giao, chính khách sừng sỏ, "tận trung" bày mưu tính kế. Có
xét đến những hoàn cảnh cụ thể như vậy mới hiểu hết
được tính cách mạnh của Trần Nhân Tông thể hiện trong
lời kêu gọi quần thần hãy vững tin giữa lúc cuộc kháng
chiến tưởng chừng sẽ bị đè bẹp trong chốc lát:
Cối
Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan,
Diễn do tồn thập vạn binh (1).
(Cối
Kê việc cũ ngươi nên nhớ,
Hoan
Diễn còn kia mười vạn quân).
Và
cũng từ đó mới thấy hết vẻ đẹp của tinh thần tự hào
dân tộc, lòng tin yêu nhân dân, tin yêu những người cộng
sự khi ông khẳng định tương lai đất nước trước cảnh
gạch đá ngổn ngang, quân giặc vừa rút chạy:
Xã
tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn
hà kim cổ điện kim âu.
(Xã
tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non
sông nghìn thuở vững âu vàng).
Trần
Nhân Tông là con người hành động. Cũng như Thái Tông và
Thánh Tông, ông không chỉ trực tiếp cầm quân ra trận mà
còn chủ trì nhiều cuộc tiếp sứ thực chất là những cuộc
đấu tranh ngoại giao không kém phần gay gắt. Bằng vào sự
cố gắng và tài năng của mình, đương nhiên có hậu thuẫn
vững chắc là thế mạnh của cả dân tộc, Nhân Tông đã
làm cho sứ giả nhà Nguyên từ cung cách "đi lại nghênh ngang
ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình,
đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ" (Hịch tướng sĩ -
Trần Hưng Đạo) đã tỏ ra "biết điều" hơn. Năm 1292, Trương
Hiển Khanh sang sứ Việt Nam. Ông ta đã được ăn tết mồng
ba tháng Ba, được Nhân Tông tặng một mâm bánh kèm theo một
bài thơ nhắn gửi nhiều ý tứ sâu xa:
Múa
giá chi rồi, thử áo xuân,
Hôm
nay Hàn thực, buổi thanh thần.
Bánh
rau tinh khiết đầy mâm ngọc,
Phong
tục An Nam theo cổ nhân (2).
(Quỹ
Trương Hiển Khanh xuân bính).
Hiển
Khanh sau đó đã phải công nhận:
Nước
An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương,
Đừng
nói bừa họ là ếch ngồi đáy giếng (3)
Và
năm sau, 1293, thì Trần Phu không thể giấu giếm sự hoảng
sợ:
Kim
qua ảnh lý đan tâm khổ,
Đồng
cổ thanh trung bạch phát sinh (4).
(Sứ
hoàn cảm sự)
(Trong
ánh giáo gươm lòng đắng lại,
Trống
đồng vang động bạc phơ đầu).
Như
vậy, vào những năm này đất nước đã hồi sinh và nhà Nguyên
ít nhiều cũng phải vì nể. Trong tình thế đó, Nhân Tông
thực hiện truyền thống của nhà Trần: truyền ngôi cho con,
mình chỉ giữ vai trò cố vấn. Kể ra đến lúc này Nhân Tông
có thể mặc sức ngao du nhàn hạ. Nhưng cũng phải năm sáu
năm sau ông mới được thư tâm "xuất gia" rồi trở thành
vị tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Đến
đây dường như có một bước ngoặt trong tư tưởng Trần
Nhân Tông. Cớ gì một ông vua anh hùng "nhập thế" đến như
vậy bỗng nhiên lại vứt bỏ tất cả để tìm đến với
đạo lý hư vô:
Ngoài
việc thắp hương tham thiền ra,
Mọi
điều suy nghĩ đều cho qua đi thôi.
(Đại
Lãm Thần Quang tự)
Phải
chăng Trần Nhân Tông không còn là con người tích cực nữa?
Phải chăng dĩ vãng anh hùng chỉ còn lại chút dư âm? Hoàn
toàn không phải thế! Đối với Nhân Tông, xã tắc là điều
hệ trọng hơn cả. Khi còn trẻ, có thời gian ông mải mê
với việc giữ gìn giới luật đến nỗi mặt võ mình gày,
Thánh Tông thấy vậy phải nhắc: "Trẫm nay đã già rồi, chỉ
trông mong vào một mình con. Nếu con như thế thì cơ nghiệp
lớn của tổ tông sẽ ra sao?" (5). Lời nhắc nhở ấy đã
khiến Trần Nhân Tông bừng tỉnh. Sau này, khi đã xuất gia,
ông vẫn quan tâm đến việc triều chính. Vào năm 1293, trước
lúc chính thức lên Yên Tử làm một vị đại đầu đà, Nhân
Tông bất ngờ về cung kiểm tra việc triều chính. Ông khiển
trách rất nghiêm, thậm chí có thể cách chức các quan, truất
ngôi người kế vị vì tệ ham tiệc tùng chè rượu, bê trễ
công việc. Hai năm sau (1301), ông lại đi khắp đất nước,
sang cả Chiêm Thành để củng cố quan hệ với nước láng
giềng. Có lần xem sổ ban thưởng, thấy Anh Tông dễ dãi,
ban cấp tràn lan, ông quở trách: "Sao có một nước bằng bàn
tay mà ban chầu nhiều đến thế" (6)... Như vậy, giữa những
ngày "dốc lòng" tham Thiền giảng kinh, những ngày đã "liễu
ngộ" lẽ sắc không, "lạnh lòng" với nhan sắc:
Tuổi
trẻ chưa tường lẽ sắc không,
Mùa
xuân hoa nở rộn tơ lòng.
Đông
quân nay đã thành quen mặt,
Chiếu
cỏ xem hoa rụng cánh hồng.
(Xuân
vãn)
Nhân
Tông vẫn không thờ ơ với việc nước. Ông không tìm đến
đạo Phật chỉ với mục đích "độ" cho mình thoát khỏi
vòng luân hồi bằng những nghi lễ cúng giàng thô sơ máy móc.
Ông đến với giáo lý nhà Phật để tìm sự "giác ngộ",
cũng là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi lớn: Con người
là ai? Từ đâu đến và cuối cùng đi đâu? Thế giới có
hay không? Thật hay ảo?... Những câu hỏi ấy loài người
đặt ra từ rất sớm, và cũng từ rất sớm con người cố
gắng tìm câu trả lời. Thích Ca mâu ni cũng đã đưa ra một
đáp án: thế giới, con người chỉ là sự kết hợp của
năm yếu tố - "ngũ uẩn" - bao gồm cả tâm và vật: sắc,
thụ, tưởng, hành, thức. Thế nhưng những câu hỏi đó vẫn
trở đi trở lại. Đến khoảng thế kỷ 11, 12, 13, dường
như ở phương Đông vấn đề đó lại được đặt ra sôi
nổi. ở Trung Quốc người ta không chịu bằng lòng với thuyết
"thiên nhân tương ứng" - trời với người có sự cảm ứng
trực tiếp bí ẩn sơ giản của Nho giáo nữa. Các nhà Tống
Nho đã rút phần bản thể luận của Phật giáo, những yếu
tố biện chứng của Lão giáo để bổ sung và nâng cao tầm
triết học Nho giáo. Còn ở Việt Nam, giai đoạn này cũng là
thời kỳ thịnh đạt nhất của Phật giáo. Dưới thời Lý
có nhiều buổi họp mặt các Thiền gia và cả các vương hầu
để đàm đạo về con người, vạn vật. Tuy nhiên, đối với
Trần Nhân Tông, có thể còn lý do khác khiến ông đến với
Phật giáo: mối quan hệ giữa những con người. Dẫu sao đạo
Phật cũng đề cập đến một tình thương rộng lớn, sự
không phân biệt đẳng cấp xã hội trong hàng Phật tử. Nhân
Tông là ông vua có tư tưởng "thân dân" vào bậc nhất đời
Trần. Ông đã từng nhắc đến công lao của những người
gia đồng, từng phạt trượng viên quan Châu Diễn là Phi Mạnh
về tội tham ô, xuống chiếu cho phép những người bán con
làm nô tỳ được chuộc lại, trong thơ ông có bóng dáng trẻ
chăn trâu, thôn xóm, làng mạc... Cho nên, có thể cả hai mặt
về quan điểm vũ trụ, nhân sinh của đạo Phật đã hấp
dẫn ông khiến ông suy nghĩ thêm về những kế sách "chăn
dân trị nước" và muốn xây dựng một môn phái Thiền học
bề thế, đàng hoàng của riêng Việt Nam, đời Trần. Khác
với các vua nhà Lý và cả Trần Thái Tông, ở lĩnh vực này
Nhân Tông cũng rất có chủ kiến.
Ông
chấp nhận đạo Phật, nhưng đã tách đạo Phật ra khỏi
đời sống chính trị và trả lại cho nó nhiệm vụ chính
yếu của một tôn giáo: chăm sóc đời sống tâm linh của
con người. Đến Nhân Tông dòng Thiền Việt Nam đã thống
nhất thành một mối từ tổ chức đến giáo lý, cách thức
đào tạo, truyền nối và có cả một quê hương riêng cho
mình. Chính Nhân Tông đã chọn Yên Tử làm mảnh đất quê
hương cho dòng Thiền Trúc Lâm, mặc dù thời đó xung quanh
Kinh đô không ít ngôi chùa có quy mô lớn, đủ điều kiện
để trở thành trung tâm một môn phái như Phật Tích, Phổ
Minh... Vì sao Nhân Tông đến với Yên Tử và có ý định đưa
trung tâm Phật giáo xa Kinh đô, đó cũng là một câu hỏi.
Tăng Hải Hòa tức Nguyễn Đăng Sở (1753 -?) đã căn cứ vào
tinh thần yêu nước, tài năng quân sự của Nhân Tông, cho
rằng thực chất Nhân Tông lên Yên Tử để tìm một vọng
gác tiền tiêu bao quát vùng đông bắc:
"Người
ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì
bảo là ngài xuất gia. Ta biết rằng Đức ngài lúc bấy giờ
biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự nhưng ở phía
bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm.
Cái ý ấy là không tiện nói rõ sợ người ta dao động. Cho
nên nhằm được ngọn Yên Tử là núi cao nhất, phía đông
nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng
lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh,
cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là
một vị Vô lượng lực Đại thế chí Bồ tát. Lúc bấy giờ
chỉ có Huyền Quang Tôn giả biết được ý ấy, bỏ cái cao
sang của một vị Trạng nguyên sớm chiều đi theo ngài để
hoàn thành cái ý nguyện của ngài. Thật là một vị Vô lượng
kiến thức Đại Bồ tát". (7)
(Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh)
Kiến
giải này sẽ hoàn toàn thuyết phục nếu chúng ta tìm được
trong di tích khảo cổ hay sử liệu một vài chứng cứ chỉ
ra rằng Nhân Tông đã cho lập một hệ thống truyền tin hay
đôi ba trạm quan sát quanh vùng Yên Tử. Tuy nhiên về mặt
đạo thì Yên Tử quả có ưu thế hơn so với nhiều nơi khác.
Cảnh trí ở đây cách biệt với thị thành dễ đưa con người
gần lại với thiên nhiên để tĩnh tâm. Vả lại, vẻ huyền
bí của núi rừng có thể tạo nên không khí thiêng liêng,
thích hợp với việc tu hành. Quốc sư Phù Vân, nhà sư Lý
Tự Thông (đời Lý) đều coi Yên Tử là nơi dành riêng cho
người xuất gia, là "phúc địa" của Giao Châu. Chính Nhân
Tông cũng nói:Non hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu
dao, Chiền vắng am thanh, chính thực cảnh đạo nhân du hý.(Cư
trần lạc đạo phú)
Song
Yên Tử hấp dẫn Nhân Tông có thể còn bởi một lẽ khác
chính yếu hơn, đó là vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa thanh thoát,
mộc mạc của cảnh trí thiên nhiên ở đây mà bằng sự nhạy
cảm và tinh tế của tâm hồn ông đã khám phá ra được.
Nhân Tông là một con người đa dạng. Trong ông có bản lĩnh
quả quyết, vững vàng của một người làm tướng, có cái
sắc bén, bình tĩnh ung dung của một nhà chính trị, ngoại
giao, có sự sâu sắc thâm trầm của một nhà Thiền học và
quán xuyến tất cả lòng nhân ái, hồn hậu, yêu nước nồng
nàn... của con người Việt Nam cùng với một tâm hồn thơ
giàu cảm xúc, tinh tế. Nếu như những ngày cầm quân đuổi
giặc và trị nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống
tâm tư Trần Nhân Tông thì những ngày tu hành làm vị tổ
của Thiền phái Trúc Lâm cũng có một vị trí không thua nhiều
lắm. Có điều ngày nay Trung hưng thực lục do ông chỉ đạo
viết cũng như Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Thạch thất
mị ngữ, Tăng già toái sự của ông đều đã mất. Và do
vậy trong trước tác còn lại, Nhân Tông hiện ra hầu như
trọn vẹn với tư cách nhà thơ, mà chủ yếu là thơ trữ
tình. Ông dành nhiều tình cảm cho cảnh sắc thiên nhiên, trong
đó có một phần cho Yên Tử. Ông ít trực tiếp nhắc nhở
cái tên Yên Tử, dù vậy có một mảng thơ văn của ông gắn
bó và mang khí vị hùng vĩ, hoang sơ của rừng núi nơi này.
Ông từng ngồi nghe gió thổi ngọn tùng mà nghĩ đến giá
trị của chữ "nhàn":
Cảnh
vắng nơi yên tự tại lòng,
Hiu
hiu gió thổi mát rừng thông.
Giường
Thiền dưới cội kinh vài quyển,
Hai
chữ thanh nhàn đáng vạn đồng (8).
(Đắc
thú lâm tuyền thành đạo ca)
Ông
cũng từng một mình "đối cảnh" trong một đêm trắng mênh
mang trên núi Bảo Đài, một ngọn của dãy Yên Tử:
Đất
vắng đền đài thêm cổ xưa,
Xuân
sang, vừa đó mới theo mùa.
Gần,
xa, thấp thoáng mây lồng núi,
Nắng,
rợp, mơ hồ một ngõ hoa.
Nước
đẩy nước trôi, đời vạn sự,
Tâm
nghe lòng nhủ, tháng năm qua.
Nâng
ngang ống sáo bên thềm vắng,
Đầy
ngực trăng thanh tỏa ánh ngà (9).
(Đăng
Bảo Đài sơn)
Và
lẽ nào không có bóng dáng cảnh quan Yên Tử trong những câu
thuyết pháp sau đây:
Cánh
bằng cao vút nương tầm gió,
Sóng
biển êm đềm sáng ngọc trai.
Nước
trắng mênh mông chim én lạc,
Vườn
tiên đào thắm gió xuân say (10).
Lại
nữa, cũng từ một phòng canh nhỏ trên núi này - Sơn phòng
- rút cuộc Nhân Tông đã "liễu ngộ", đã tìm ra chân lý:
Ai
trói phải tìm phương giải thoát,
Chẳng
phàm hà tất học thần tiên?
(Sơn
phòng mạn hứng)
Hẳn
đây cũng là một điều có ý nghĩa mà Nhân Tông đã tìm ra
trong những ngày ở Yên Tử, những ngày "dốc lòng" nghiên
cứu đạo Thiền. Song dù vậy, Nhân Tông cũng không chỉ là
con người của đạo. Tâm hồn nhạy cảm của ông còn dành
cho nhiều sự vật khác. Có biết bao nhà thơ phương Đông
đã vịnh hoa mai nhưng Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng
những rung cảm riêng vừa thâm trầm tinh tế, vừa sắc sảo
nồng nàn:
Năm
cánh hoa tròn nhị điểm vàng,
San
hô, vảy bạc về tân trang.
Ba
đông san sát cành khoe trắng,
Một
thoáng xuân về đã rụng quang.
Móc
ngọt chảy thơm tan giấc bướm,
Trăng
đêm loáng nước khát chim rừng.
Hằng
Nga ví biết hoa mai đẹp,
Đâu
tiếc cung thiềm lạnh quế hương.
Mấy
ngày ngại rét lười ra cửa,
Gió
ấm đang về bên gốc mai.
Bóng
ngả trên sông băng mới rạn,
Đầu
cành e ấp vẻ xuân phơi.
Họa
long, sáo ướt mây quan ải,
Thúy
vũ, ca chìm trăng xóm đồi.
Tỉnh
giấc bâng khuâng lòng bạn cũ,
Khôn
đem hoa mộng tặng đưa ai (11).
(Tảo
mai)
Trong
truyền thống thơ phương Đông người ta thường khai thác
ở cây mai vẻ cứng rắn, bất chấp gió sương, song Trần
Nhân Tông chỉ cực tả vẻ đẹp bản nhiên của những cánh
hoa mỏng mảnh, một vẻ đẹp tinh khiết mà linh động, hấp
dẫn: cánh trắng điểm nhị vàng, óng ánh như bóng san hô
chìm, như vảy cá nổi; khi nở rộ thì trắng vườn, tỏa
hương thơm dịu ngọt, khi hết mùa còn lại vài bông thì e
ấp nép đầu cành... Những bông hoa mai ấy rất thực nhưng
dường như lại ảo. Suốt ba tháng đông, hoa khoe sắc, thu
hút cảm giác vạn vật, thách thức cả cây quế cung thiềm;
thế mà chỉ qua vài hôm, mùa xuân chợt đến là mầu trắng
rạng rỡ ấy đã tan biến đi như một phép lạ. Những đóa
hoa mai của Nhân Tông gần gũi nhưng xa vời biết bao! Hương
thơm của hoa làm chú bướm si mê phải giật mình tỉnh giấc;
sắc hoa hòa ánh trăng loang loáng như nước làm cho con chim
đang khát cháy cổ thêm buồn rầu; cành mai tươi đẹp rơi
vào giấc mộng cố nhân khiến cho người tỉnh giấc càng
bâng khuâng vì hoa chỉ là hoa trong mộng! Trần Nhân Tông thật
đã viết những vần thơ độc đáo và tinh tế về hoa mai.
Các nhà am hiểu Thiền học có thể khen Tảo mai là bài thơ
Thiền đặc sắc. Bởi lẽ ở đây "cái sắc" và "cái không"
quyện vào nhau bao nhiêu thì cái ham muốn và cái được nhận
lại cách xa nhau bấy nhiêu. Dường như bài thơ là một lời
chỉ dẫn cho đệ tử "cái vô thường" của vạn vật để
từ đó biết hạn chế những dục vọng trong cuộc đời!
Thế nhưng nếu bằng những cảm xúc hoàn toàn thế tục, người
đọc cũng không thể phủ nhận giá trị thẩm mỹ của những
vần thơ này và cũng như tác giả vừa xúc động vừa bâng
khuâng trước vẻ đẹp của những cành mai sớm ấy. Phải
nói rằng những cành hoa mai Yên Tử này (có thể tin đây là
mai Yên Tử bởi vì đằng sau những cành mai không thấy bóng
dáng một tòa lâu các, một cánh rèm hoa hay những khách công
hầu, những trang mỹ nữ mà chỉ có mây quan ải, trăng xóm
đồi, băng trên sông và tấm lòng bạn cũ) cũng rất tình
tứ và thế tục.
Về
bút pháp miêu tả tinh tế của Trần Nhân Tông còn có thể
kể đến các bài Vũ Lâm thu vãn, Lạng Châu vãn cảnh. Có
điều cảnh cuối thu ở Vũ Lâm thì mầu sắc và hình ảnh
đều đậm mà tươi. Chúng đối lập nhau để bồi thấn cho
nhau khiến cảnh vật đang lặng lẽ trở nên linh hoạt, vui
mắt:
Cầu
hoa đảo bóng vắt ngang khe,
Một
vệt tà dương nước sáng lòe,
Lặng
lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,
Sương
chiều mây ướt tiễn chuông đi (12).
(Vũ
Lâm thu vãn)
Trái
lại cảnh chiều châu Lạng lại rất tĩnh, các mầu sắc như
hòa vào nhau: lá đỏ, mây chiều, thuyền câu, chuông chùa...
tất cả đều như chìm vào cảnh rừng thu sương móc mênh
mang cùng ngôi chùa cổ hoang vắng:
Chùa
xưa lặng lẽ khói thu mờ,
Chiều
quạnh thuyền câu chuông vẳng đưa.
Núi
lặng, nước quang, âu trắng lượn,
Tạnh
mây, im gió, đỏ cây thưa.
(Lạng
Châu vãn cảnh)
Trần
Nhân Tông đã đi hầu khắp đất nước. Trước khi đến với
Yên Tử ông đã sống cuộc đời sôi động và vương giả.
Trong thơ ông còn dấu ấn của những chặng đường đời
ấy. Có những vần thơ hào hùng về những ngày đuổi giặc;
có vần thơ đắc chí khi về thăm mộ ông nội - vua Trần
Thái Tông - thấy thị vệ nghiêm túc, lòng người gắn bó
với vương triều:
Giáo
đòng nghìn cửa mật
áo
mũ, bảy phẩm chung.
Người
lính già đầu bạc,
Kể
mãi chuyện Nguyên Phong (13).
(Xuân
nhật yết Chiêu lăng)
Cũng
có những cảm xúc tinh tế mà ấm áp trong một chiều thanh
bình ở phủ Thiên Trường. Không gian thì như mơ hồ nhưng
cuộc sống thì sinh động và rất thực, nó cho ta cảm giác
về một vùng quê an lạc rất đỗi quen thuộc, song không phải
lúc nào cũng có được:
Xóm
trước, thôn sau tựa khói lồng,
Trời
chiều dường có lại đường không.
Mục
đồng sáo vẳng trâu về hết,
Cò
trắng từng đôi liệng xuống đồng.
(Thiên
Trường vãn vọng)
Nhân
Tông còn có những vần thơ về quãng thời gian ở trong cung,
khi ông còn là bậc chúa tể, "lòng còn ở trong trăm hoa mỗi
khi xuân đến" (Nhất xuân tâm tại bách hoa trung). Đó là những
vần thơ tươi trẻ, thể hiện trạng thái xốn xang bất ngờ
nhận ra mùa xuân đã đến, nhân chợt thấy cánh bướm quyến
luyến bên hoa:
Ngủ
dậy ngỏ song mây,
Xuân
về vẫn chửa hay.
Một
đôi bươm bướm trắng,
Phấp
phới sấn hoa bay (14).
(Xuân
hiểu)
Bài
thơ trên diễn tả niềm vui, song đối với tác giả dường
như giây phút ấy không nhiều. Phải chăng ông bận, có nhiều
việc phải quan tâm, đến nỗi quên cả bước chân năm tháng,
chỉ đến khi cuộc sống của muôn loài đã rộn ràng náo
nức ông mới như chợt nhớ ra. Quả là ông lơ đãng, song
sự lơ đãng ấy cũng là một nét đẹp trong tính cách Nhân
Tông.
Có
thể nói Nhân Tông không phải một ông vua ham tìm kiếm những
cuộc truy hoan. Mặc dù sống giữa ba cung sáu viện, không thiếu
gì thú tiêu khiển, không thiếu gì hương sắc nhưng ông vẫn
dành cho mình những buổi yên tĩnh nơi viện sách; ở đây
sách, đèn, người và trăng như chiếm lĩnh cả không gian và
thời gian:
Nửa
song đèn sáng, sách đầy giường,
Đêm
lạnh sân thu khí đượm sương.
Thức
dậy tiếng chày đâu chẳng biết,
Trên
cành hoa mộc ánh trăng vương (15).
(Nguyệt)
Bài
thơ nói về trăng nhưng Nhân Tông cũng cho ta hiểu thêm một
việc làm khác của ông: đọc sách, học hành. Cả ở lĩnh
vực này nữa, ông cũng lao động nghiêm túc, miệt mài. Đêm
mùa thu lạnh, ông vẫn chong đèn đọc sách đến khuya và chợp
mắt trong tư thế làm việc - đèn vẫn sáng - khi tỉnh lại
đêm vẫn còn khuya, cả không gian im ắng, chỉ có mảnh trăng
cuối tháng lửng lơ trên đầu cây quế... Nếu nói rằng trong
thơ có họa thì các bài thơ này, bài Lạng châu văn cảnh,
Vũ Lâm thu vãn, là những bài đạt đến trình độ ấy. Song
không phải thơ Nhân Tông chỉ có cỏ cây hoa lá. Ông là người
đầu tiên nói đến nỗi lòng người cung nữ. Họ buồn vì
sự trống trải, họ oán giận vị đông quân thờ ơ với
họ nhưng dù vậy họ vẫn khao khát chờ đợi một chút đoái
tưởng của vị chúa tể:
Ngủ
dậy xem hoa rụng trước mành,
Gió
đông im, vắng tiếng chim oanh.
Không
dưng ác lặn bên lầu vắng,
Cùng
ngoảnh về đông bóng lá cành (16).
(Khuê
oán)
Với
hai mươi tám chữ ngắn ngủi, Nhân Tông đã diễn tả được
khá đầy đủ tâm trạng phức tạp và thầm kín của những
người cung nữ. Sự hiểu biết này một lần nữa chứng tỏ
tấm lòng nhân ái của ông.
* *
*
Nhìn
chung lại Nhân Tông là một con người toàn vẹn. Bỏ qua những
hạn chế lịch sử mang tính chất thời đại, có thể thấy
Nhân Tông rất có công trong công cuộc dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Ông rất xứng đáng là người tiêu biểu
cho đất nước, dân tộc một thời. Một nhà chính trị, ngoại
giao như ông không phải dễ tìm; và một nhà thơ như ông cũng
vào loại hiếm. Trong thời thịnh Trần, Nhân Tông là một
nhà thơ có phong cách và cũng là một đỉnh cao.
Viên
Mai, một nhà lý luận về thơ nổi tiếng của Trung Quốc cổ
đại, khi bàn về thơ có nói: "Thơ nên đạm không nên nồng
nhưng phải là cái đạm sau khi đã nồng". Nhiều bài thơ của
Nhân Tông đã đạt đến cái vị "đạm" ấy. Có điều ngay
cả những bài thơ "nồng" của ông như Xuân nhật yết Chiêu
lăng, Xuân hiểu, Tảo mai... chắc gì đã thua kém những bài
thơ "đạm". Nếu mượn câu nhận xét của Phạm Văn Đồng
về Nguyễn Trãi: "Nhiều tài hoa như vậy dồn cho một người
là điều hiếm có" để khen Trần Nhân Tông hẳn cũng không
đến nỗi quá lời.
Phó
Giáo sư Trần Thị Băng Thanh
(1)
Những câu thơ trích trong bài này đều theo Thơ văn Lý - Trần,
tập II, Q.thượng. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội,
1989. Những trường hợp sử dụng bản dịch khác, chúng tôi
sẽ ghi tên người dịch; đối với những bài chúng tôi có
tham gia hiệu chỉnh thì ghi thêm chữ theo.
(2)
Trần Lê Văn dịch.
(3)
An Nam chí lược, Q.XVII, bản dịch. Tài liệu tham khảo, Thư
viện Viện Văn học.
(4)
Dẫn theo Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục. Nhà xuất bản
Sử học, Hà Nội, 1962, tr.203.
(5)
Thánh đăng ngữ lục, truyện Trần triều Nhân Tông Hoàng đế.
(6)
Đại Việt sử ký toàn thư, tập II. Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1985, tr.103.
(7)
Thơ văn Ngô Thì Nhậm. Tập I. Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1978, tr.101 - 102.
(8)
Bản dịch cũ.
(9)
Băng Thanh dịch.
(10)
Trần triều Nhân Tông Hoàng đế. Sđd.
(11)
Băng Thanh dịch.
(12)
Đào Phương Bình dịch.
(13)
Theo bản dịch cũ.
(14)
Nguyễn Đức Vân dịch.
(15)
Theo Đào Phương Bình
(16)
Băng Thanh dịch.
Xem
Tiếp Trang 2