THƠ VĂN TRẦN
THÁI TÔNG
Khóa Hư
Lục
Khóa
hư lục là tác phẩm nổi tiếng của Trần Thái Tông. Đây
là một tập hợp những tác phẩm giảng về đạo Thiền của
ông. Có diễn, người tập hợp chắc không phải là ông. Trong
các văn bản được tập hợp lại, có những cách sắp xếp
khác nhau, nhưng nội dung tác phẩm thuộc hai vấn đề: 1. Những
bài giảng về các vấn đề chung, 2. Phần thực hành tu trì,
tức khóa lễ của lực thì.
Căn
cứ trên văn bản được trình bày trong Thơ văn Lý Trần -
Tập 2 - Quyển thượng - chúng tôi xin trích giới thiệu những
tác phẩm quan trọng, mang đậm tính chất văn học, tư tưởng
và bút pháp của tác giả trong cuốn sách này. Đó là những
bài giảng về các vấn đề duy nhất của đạo Thiền, và
một số bài kệ, thực chất là những bài thơ Thiền có giá
trị văn học.
Sơ
nhật vô thường kệ
Phiên
âm:
Sơ
nhật vô thường kệ
Dạ
sắc sơ phân hiểu,
Thần
quang tiệm xuất không.
ám
thôi tân phát bạch,
Tiệm
cải cựu nhan hồng.
Bất
giác niên hoa xúc,
Do
tranh nghiệp quả hùng.
Thân
như băng kiến hiện,
Mệnh
tự chúc đương phong.
Mạc
tác trường niên khách,
Chung
quy tảo chiếu công.
Dịch
nghĩa:
Kệ
vô thường(1) buổi sớm
Sắc
đêm mới vừa hửng sáng,
ánh
ban mai hiện dần trên bầu trời.
Ngầm
giục mái tóc xanh điểm trắng,
Dần
thay vẻ hồng của dung nhan xưa.
Chẳng
biết tuổi xuân ngắn ngủi,
Còn
tranh nghiệp quả (2) mạnh hùng.
Thân
như băng gặp nắng trời,
Mệnh
tựa ngọn đèn trước gió.
Chớ
làm người khách trọ mãi mãi,
Cuối
cùng hãy quay về với công soi rọi sớm.
Dịch
thơ:
Đêm
tối vừa hửng rạng,
Vầng
dương ló khoảng không.
Tóc
xuân ngầm điểm trắng,
Nét
ngọc sắp phai hồng.
Nào
biết niên hoa ngắn,
Còn
tranh nghiệp quả hùng.
Thân:
lớp băng nắng rọi,
Mệnh:
ngọn đuốc gió tung.
Chớ
mải làm thân khách,
Sớm
về mà thu công.
đào
phương bình dịch
Chú
thích:
Xuất
xứ: KHL1, KHL2, KHL3
(1)
Vô thường: thuật ngữ đạo Phật, tức vô thường biến
dịch, phản ánh một quan điểm cơ bản của triết học Phật
giáo cho rằng tất cả mọi vật trong thế giới hữu vi đều
không ngừng vận động theo chu trình: sinh ra, lớn lên và hủy
diệt. Kệ vô thường là bài kệ nói về quy luật biến dịch,
sự vận động của thế giới hữu vi, ứng dụng vào một
thời điểm nhất định. Lúc này là buổi sáng sớm, các thì
sau là buổi trưa, buổi hoàng hôn, chập tối, nửa đêm...
mỗi thì đều có một bài kệ vô thường.
(2)
Nghiệp quả: thuật ngữ đạo Phật, nghĩa là kết quả báo
ứng do nghiệp của người đời.
Trong
Khóa hư lục mỗi thì đều có các bài: hiến hương, hiến
hoa, khải bạch, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, hồi hướng,
phát nguyện và vô thường kệ. Chúng tôi chỉ chọn một số
bài. Riêng thì Sơ nhật lấy toàn bộ theo như kết cấu của
chính văn để giúp bạn đọc hình dung được bộ mặt của
nguyên tác.
Thử
thời vô thường kệ
Phiên
âm:
Thử
thời vô thường kệ
Cảnh
bức tây sơn mộ,
Hà
thời tích thốn âm.
Dủy
năng bòn mã ý,
Na
khẳng trụ viên tâm.
Nhật
xuất hoàn tương một,
Thân
phù hựu 1* phục trầm.
Lão
lai ngu dữ trí,
Tử
khứ cổ hòa câm (kim).
Bất
miễn vô thường đáo,
Nan
đào đại hạn lâm.
Các
nghi 2* hành chính đạo,
Vật
sử nhập tà lâm.
Dịch
nghĩa:
Kệ
vô thường lúc bấy giờ (hoàng hôn)
Cảnh
gần về chiều, mặt trời khuất non Tây,
Đến
bao giờ mới luyến tiếc tấc bóng.
Chỉ
có thể buông lỏng ý ngựa (1),
Nào
chịu dừng lại cái lòng vượn (2).
Mặt
trời mọc rồi sẽ lặn,
Tấm
thân nổi rồi lại chìm.
Tuổi
già đến, nào kể gì khôn dại,
Việc
chết thì xưa cũng như nay.
Không
tránh khỏi lúc vô thường dẫn tới,
Khó
trốn khỏi cái hạn lớn (3) kéo về.
Ai
nấy nên tu hành chính đạo,
Chớ
để mình lạc vào rừng tà.
Dịch
thơ:
Vừng
hồng đà gác núi,
Tấc
bóng tiếc chăng ai.
ý
ngựa chạy theo mãi,
Vượn
tâm buông thả hoài.
Mặt
trời mọc rồi lặn,
Thân,
nổi chìm luân hồi.
Già,
trí ngu nào khác,
Chết,
nay như xưa thôi!
Vô
thường, khó tránh khỏi,
Hạn
lớn, trốn không nơi.
Đạo
chính, hãy theo đuổi,
Rừng
tà, mau xa rời.
Băng
Thanh dịch
Khảo
đính:
1*
Khóa hư lục AB. 268: khước
2*
Khóa hư lục AB. 268 và AB. 367: các các
Chú
thích:
(1)
(2) ý ngựa (mã ý) và lòng vượn (viên tâm): tức ý và lòng
phóng túng hung hăng như con ngựa, con vượn không chịu ở
yên, không ngừng lại ở một chỗ, luôn luôn mơ ước, vọng
cầu...
(3)
Hạn lớn: giới hạn lớn của cuộc đời, tức là sự chết.
Xem
Tiếp Trang 3