TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 THƠ VĂN GIÁO LÝ

 


THƠ VĂN TRẦN THÁI TÔNG

Trần Thái Tông - Nẻo Về Ðích Thực

Trần Cảnh sinh ngày 16 tháng Sáu năm Mậu Dần (1218), niên hiệu Kiến Gia thứ 8 đời Lý Huệ Tông. Lên tám tuổi làm Chi hậu chính chi ứng cục, hầu cận Lý Chiêu Hoàng. Do sự sắp xếp của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh kết duyên cùng Lý Chiêu Hoàng. Ngày 11 tháng Chạp năm ất Dậu (1226), Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, ông lên ngôi mở đầu cho nhà Trần, chấm dứt nhà Lý. Năm Bính Thân (1236), do sức ép của Thủ Độ, ông giáng vợ làm công chúa, lấy Thuận Thiên (là chị của Chiêu Hoàng, lại là vợ của anh là Trần Liễu). Năm 1257 chỉ huy và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với quân Nguyên - Mông lần thứ nhất. Năm 1258, nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (tức Thánh Tông), làm Thái thượng hoàng. Ngày 1 tháng Tư năm Đinh Sửu (1277), ông mất, miếu hiệu: Thái Tông. Từ đây gọi là Trần Thái Tông. Ông là điển hình của sự dung hợp Nho - Phật. Là một ông vua rồi Thái thượng hoàng, trị vì suốt 50 năm, nhưng các tác phẩm hiện còn của ông lại chuyên bàn về Phật.

Một ngày mùa xuân năm 1236...

Trần Thái Tông cùng vài người hộ giá ít ỏi rời bỏ kinh thành Thăng Long, từ bỏ ngôi báu hướng về phía núi Yên Tử. Ông ra đi như một kẻ chạy trốn. Nhưng ông chạy trốn cái gì và đi tìm gì ở nơi thẳm xa và tĩnh lặng ấy?

Đến Yên Tử, khi nghe Quốc sư hỏi: "Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu điều gì mà đến chốn này?"  (Thơ văn Lý - Trần, Tập II, Q. thượng. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.28. Các trích dẫn dưới đây không ghi xuất xứ đều lấy từ sách này), Thái Tông trả lời: "Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các đế vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn được thành Phật".

Ta biết là Thượng hoàng vừa mất năm 1234, khi Thái Tông đã 17 tuổi và đã làm vua được ngót mười năm. Xem ra cái lý do: "Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất" không được thuyết phục lắm. Còn "trơ vơ đứng trên thiên hạ, không chỗ tựa nương" cũng thế. Chẳng phải ông đã từng có Trần Thủ Độ - một người giúp rập hết lòng luôn ở bên cạnh đó sao? Nhưng rắc rối chính lại nằm ở ông này. Thái Tông tránh không nói, còn quốc sử lại chép khá rõ rằng: "Trần Thủ Độ và công chúa Thiên Cực mật mưu với vua" (Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Kỷ nhà Trần, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.15) để cướp vợ của anh là Trần Liễu. Vì sao? vì mãi đến lúc ấy Chiêu Hoàng vẫn chưa có con (Hành động này có vẻ vội vàng, bởi Chiêu Hoàng sau này được gả cho Lê Phụ Trần và có tới 5 con) mà Thuận Thiên thì đang có mang được ba tháng. Làm như thế là để lo cho sự tiếp nối dòng dõi của vương triều, tộc họ, nhưng khi Trần Liễu khởi loạn thì Thái Tông không khỏi "áy náy" và đã trốn đi Yên Tử là vì thế. Cái hơn, cái được của Thái Tông là đã không những không giết mà còn che chở cho Trần Liễu khi Trần Liễu biết mình thế cô tự nguyện đến hàng. Hành động ấy sau này được Dụ Tông ca ngợi:

Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.
Kiến Thành tru tử, Yên Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
(Sáng nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông,
Đường là Trinh Quán, Việt Nguyên Phong.
Kiến Thành bị giết, Yên Sinh sống,
Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng) (Sđd, tr.45)

Nhưng cũng có thể là Thái Tông đã ân hận thật sự - điều mà đã có mấy vị "nhân chủ" có được? Bởi có quyền là có thể làm tất cả! Thái Tông thì khác. Ông tuy phạm sai lầm nhưng không ngại ngần hoặc đã biết cách làm giảm bớt sai lầm như tiên nho từng chỉ dạy và an ủi: "Quá, tắc vật đạn cải". Lại có thể Thái Tông tự nghĩ mình đã giải quyết ổn thỏa mối quan hệ trên với anh ruột nên đã cố tình lờ đi để hướng tới một nguyên nhân sâu xa hơn, bao trùm hơn khi ông cảm nhận được một cách sâu sắc về sự "bất thường" của "sự nghiệp các đế vương thuở trước". Cái thịnh, cái suy như một nghiệp chướng và muốn tìm thấy đạo thường để tránh khỏi cả suy lẫn thịnh, đạt đến mức "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy" thì chỉ có cách cầu "thành Phật". Nhưng Quốc sư đã trả lời ông thật xác đáng: "Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật". Vậy thì ông lên núi để làm gì khi mà Phật đã tiềm ẩn ngay trong cõi lòng mình và chỉ cần lặng lẽ mà hiểu thôi! Cái động thái lặng lẽ tưởng chừng như quá giản đơn ấy, Thái Tông đã làm được chưa?

Quả tình, trước khi có lời chỉ bày của Quốc sư, lòng ông chưa lặng lẽ, ông mới chỉ hy vọng tìm thấy sự lặng lẽ, tịch nhiên của Cảnh (cái giả tướng) mà chưa tìm được lối thoát bằng cách quay trở lại với Tâm (cái chân tướng). Do vậy, có thể nói Quốc sư đã cho ông một phương pháp để đi đúng con đường mà ông hằng sở nguyện...

Theo Trần Thủ Độ quay lại Kinh đô gánh vác tiếp trọng trách của người phải "lấy tấm lòng của muôn dân làm tấm lòng mình", Thái Tông đã quay về nơi ông từng ngộ nhận.

Với tư cách là vị hoàng đế đầu tiên của cả một vương triều, ông để lại khá nhiều chính tích trên cả hai phương diện: nội trị và bang giao.

Sắp xếp lại cái giang sơn đã cũ nát và suy yếu của nhà Lý, Thái Tông một mặt biết dùng lại những nhân vật có tài của tiền triều, một mặt biết dùng pháp trị để đưa đất nước vào thế ổn định trở lại. Năm năm sau khi lên ngôi, vào tháng Ba năm 1230 ông đã cho "xét các lệ của triều trước, định làm thông chế của quốc triều và sửa đổi hình luật lễ nghi, phàm 20 quyển (Sđd, tr.10). Thiết lập những thiết chế hành chính chặt chẽ trên toàn Đại Việt, bắt đầu từ Thăng Long,

Thái Tông cho: "Định các phường về hai bên tả, hữu kinh thành... chia làm 61 phường. Đặt ty Bình bạc(Chức Kinh doãn xét việc kiện tụng ở Kinh đô, chú theo Sđd, tr.280). "Hoặc có làm rộng thêm phía ngoài thành. Đại La, bốn cửa thành thì quân Tứ sương, thay phiên nhau canh giữ" (Sđd, tr.10-11). Để công việc triều chính đi vào thường lệ, ông cũng cho "chép công việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lễ, 10 quyển" (Sđd, tr.10-11). Khi Thượng hoàng cho tô tượng Phật để thờ ở các đình trạm, Ngô Sĩ Liên xem việc này cũng giống như việc "Vạn Hạnh bảo Lý Thái Tổ" (Sđd, tr.12) và phê nhà Trần là "đầu têu của việc sùng Phật" (Sđd, tr.12). Nhưng sùng Phật thì có gì sai? Chưa kể đến thâm ý của hành động này là để nhắm vào việc cố kết lại nhân tâm, làm cho lòng người bớt hoang mang, ly tán. Ai cũng biết Phật giáo đời Lý và cả trước đó nữa đã từ lâu trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần dân tộc, nhà Trần là một triều đại mới lên, muốn phát triển và được lòng người không gì bằng phải căn bản dựa vào và đề cao yếu tố đó, làm ngược lại nghĩa là chỉ tự chuốc lấy thất bại!

Như trên, ta đã thấy Trần Thái Tông đã dám đứng ra ngăn Thủ Độ, che trở cho An Sinh vương, và có lẽ cũng từ đấy ông mới thực sự tự mình làm chủ vai trò của mình - vai trò của người đứng đầu xã tắc.

Năm 1238, Thái Tông sai Trần Thủ Độ "duyệt định số đinh phủ Thanh Hóa" (Sđd, tr.17). Bốn năm sau (1242), chia nước thành 12 lộ, đặt quan chức, duyệt hộ khẩu đến từng đơn vị xã và để "trí thức hóa" hàng ngũ quan lại, hai năm sau (1244) ông "sai các văn thần đi trị nhậm các phủ lộ trong nước" (Sđd, tr.20), lại hai năm nữa (1246) định ra lệ "khảo duyệt các quan văn võ trong ngoài" (Sđd, tr.21) và cũng định lệ thi Tiến sĩ, cứ 7 năm một khoa" (Sđd. tr.21)...

Thực ra, trước khi có lệ, nhà Trần đã tổ chức thi Thái học sinh vào các năm 1232 và 1239, chưa kể một khoa thi Tam giáo vào năm 1227. Như vậy chính sách nội trị của Thái Tông rất chú trọng việc đào tạo nhân tài, tạo ra một tầng lớp có học mới. Và chỉ 5 tháng sau khi có lệ, Thái Tông mở ngay một khoa thi, khoa này lấy đỗ được những kẻ sĩ kiệt hiệt như: Nguyễn Hiền (đỗ Trạng nguyên), Lê Văn Hưu (đỗ Bảng nhãn, v.v... và cũng từ khoa này mới có lệ lấy Tam khôi. Nhưng Thái Tông (và nói chung cả nhà Trần sau này) không độc tôn Nho học; nếu như tháng Hai thi Tiến sĩ thì tháng Tám mở ngay kỳ "thi các khoa thông Tam giáo" (Sđd, tr.21) và cũng chia giáp, ất khoa để lấy đỗ người giỏi. Điều này nói lên một chính sách không kỳ thị và biết thâu nhận chất xám trong toàn thể cộng đồng của Thái Tông.

Từ cuối năm 1243, Thái Tông đã ra sắc lệnh "đắp thành bên trong gọi là thành Long Phượng và chữa lại Quốc Tử Giám" (Sđd, tr.19), mười năm sau vào tháng Sáu năm 1253 ông lại "lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công và á thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ" (Sđd, tr.25), rồi đến tháng Chín thì xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng học tứ thư lục kinh" (Sđd, tr.25). Năm 1256, Thái Tông lại mở khoa thi nữa lấy đỗ 2

Trạng nguyên (một kinh, một trại), 1 Bảng nhãn, 1 Thám hoa và 43 Thái học sinh (Tiến sĩ). Xem ra trong khoảng 30 năm và nhất là 20 năm sau (kể từ 1236 đến 1256) chính sách đào tạo nhân tài của Thái Tông đã đi vào nề nếp, quy củ và có kết quả, thể hiện một tầm nhìn vừa tinh sâu vừa thoáng rộng.

Có tài về nội trị nhưng phải nói khả năng bang giao và quân sự của Thái Tông cũng rất đặc sắc, mang đậm dấu ấn của tuổi trẻ và cá tính ông.

Nhà Lý suy yếu, Chiêm Thành sang cướp luôn. Từ khi Trần Thái Tông lên ngôi, sứ Chiêm sang cống khá nhiều nhưng lại có ý đòi đất cũ và nhòm ngó Đại Việt, Thái Tông thân chinh cầm quân đi đánh dẹp, vừa răn đe, vừa để tỏ rõ chủ quyền. Trước đó, Thái Tông cũng tự cầm quân đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình rồi lại giả xưng Trai lang để đi qua các châu Khâm và Liêm. Giữ hòa hiếu với nước Tống ở phương Bắc nhưng ý thức về độc lập dân tộc ở Thái

Tông là rất rõ rệt. Chỉ vì một gói phẩm vật tiến cống không đến nơi thôi, Thái Tông đã cho Thân vệ tướng quân Trần Khuê Kính đánh lấy Bằng Tường để "được thông hiếu". Chịu nhận sự thụ phong của nhà Tống nhưng biên ải lúc nào cũng nghiêm mật, và kể cả khi bị quân Nguyên vây ép - khi mà Tướng quốc thái úy Nhật Hạo đã tỏ ra nao núng và lấy tay viết lên mạn thuyền hai chữ "nhập Tống", Thái Tông cũng kiên quyết chối từ. Nhà Tống đã mất về tay quân đội Nguyên - Mông, nhưng nhà Trần thì không những trụ lại được, mà Thái Tông còn trực tiếp xông pha tên đạn và chỉ huy cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Hào khí Đông A, có thể nói bắt đầu là từ Thái Tông vậy!

Có ai ngờ một ông vua như thế lại đã từng là người tự vứt bỏ ngai vàng, từ giã cả kinh kỳ để lên núi đi tìm Phật. Mới nghe tưởng chừng như mâu thuẫn và cũng tưởng như trong con người Thái Tông đồng thời có hai con người khá cách biệt nhau. Nhưng chẳng phải chính ông đã quan niệm rất hay về tính thống nhất và sự cần thiết phải tựa nương nhau giữa hai hệ phái Nho và Phật khi viết: "Phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh [...] Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời". Do thế, ngay trong thời gian trị vì ông vẫn nhớ lời Quốc sư, rất chăm chỉ nghiên tầm giáo lý nhà Phật, ông còn lập Viện Tả nhai (Theo Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1 Nxb Văn học, Hà Nội, 1992, tr 261, 262) để cùng các vương hầu tham vấn Phật đạo và đặt ra chức Tả nhai để phong cho người có phẩm trật cao nhất của Tăng đạo. Tại Viện này ông đã học các bậc thầy như Trúc Lâm và Tức Lự, ông cũng đã chịu ảnh hưởng không ít của các đạo hữu như Đại Đăng, ứng Thuận và Thiên Phong. Trong đó, đặc biệt ông hội nhập được nhiều công phu tu tập của phái thiền Lâm Tế qua Thiên Phong.

Trong quá trình ấy, khi đọc đến một bộ kinh Phật nổi tiếng là kinh Kim cương gặp câu: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (cái tâm là kỳ diệu, tự đầy đủ, trong sáng, trường tồn, bất biến, không bị lệ thuộc vào một sự vật, nơi chốn nào) ông thốt lên vui sướng, thường "gấp sách lại mà ngâm nga" mãi câu này. Rồi ông tự viết bài Tựa cho bộ kinh. Ông băn khoăn: "Chúng sinh từ lâu đã bị thói quen của "nghiệp" hun nhiễm, thần thức lại thường chịu sóng gió của "tri kiến" lung lay, thì làm thế nào?", trong khi chẳng có mấy ai chịu: "Rời bỏ nết ô trọc che trùm" và "xoay vầng sáng [của] tuệ chiếu soi", cho nên "những khiến lang thang khắp chốn, mờ mịt lối về", cũng tức là lâm vào tình trạng: "Thật giả khó phân. Vàng ròng lẫn với đồng thau; trăng sáng hiện cùng bụi bặm", đến nỗi "Quê hương, lầm về nơi "không chốn"; mặt mũi, quên dáng nét nguyên xưa".

Tình trạng đó thật mờ mịt và thảm hại. Luận về Bốn núi (Tứ sơn: sinh, lão, bệnh, tử), Thái Tông vẫn triển khai ý tưởng này. Người ta sinh ra đẹp đẽ là thế, mà theo ông:

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật viễn gia hương vạn lý trình.
(Mãi mãi làm khách phong trần trôi dạt,
Ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường).

đến khi già lão rồi, mọi việc như càng buông xuôi hơn:

Thế sự thao thao hồn bất cố,
Tịch dương Tây khứ, thủy Đông lưu.
(Đoái nhìn chi cuộc đời cuồn cuộn,
Mặt trời ngả về Tây và nước chảy về Đông).

và khi đã tật bệnh mới cảm thấy phải:

Tảo nguyện viễn ly ma cảnh giới,
Hồi tâm hướng đạo dưỡng thiên chân.
(Mong sớm rời xa cõi ma quỷ,
Hồi tâm về đạo, nuôi dưỡng thiên chân).

nhưng hình như đã quá chậm bởi lẽ cái chết đã gần kề. Và có chăng chỉ có cái chết mới đạt được một giải pháp:

Tạm thời trần liễm thiên biên tĩnh,
Nguyệt lạc trường giang dạ kỷ canh.
(Tạm thời bụi cuốn bên trời trong sạch,
Trăng rơi trên sông dài, đêm đã mấy canh).

lại cũng chỉ là một giải pháp "tạm thời". Tất cả đều có vẻ ắng lặng, mơ hồ, không gian thời gian lẫn lộn, nhạt nhòa nhưng vẫn không phải niết bàn, vẫn không phải nơi về đích thực dù đã được đặt cược bằng cái chết. Vậy, vấn đề là phải vượt lên cả Bốn núi, vượt lên được "sắc thân", mới mong thoát được cái cảnh: "Khởi đầu, sinh thực hóa sinh, nơi đến, mộng tràn nói mộng. Lăn lăn lộn lộn, vội vội vàng vàng; lấy ảo làm chân, bỏ không theo sắc", mới mong thoát được cái kết cục: "Hết thảy đều để cho "Tâm" rời bỏ; không làm sao trở gót quay về".

Viết được những lời bàn luận như trên Thái Tông đã không quản ngại bỏ ra hàng chục năm ròng để vừa "học sách Nho rồi còn học kinh Phật". Ông không hề nói suông khi muốn răn dạy, chỉ đường cho chúng sinh. Theo ông, muốn tinh tiến không gì bằng phải dày công tu học. Thái Tông từng viết ở Tựa Thiền tông chỉ nam: "Mỗi khi được rảnh việc trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền. Còn như các kinh điển của Đại giáo thì không kinh nào không nghiên cứu" và nhấn mạnh lại ở Tựa Kim Cương tam muội: "Trẫm lượng đức chủ trì ngôi báu, rồi trước sau chăn dắt muôn dân. Từng lo vất vả; chẳng ngại sớm hôm. Tuy một ngày trăm việc, cũng trộm lúc rảnh rang. Chăm việc tiếc giờ; học càng tăng tiến. Một chữ "đinh" lo chưa biết đến, đêm canh hai còn gắng tìm xem"...

Trên kia, ta đã thấy làm vua có mấy ai nhân và thứ được như Thái Tông, giờ đây ta lại thấy làm vua có mấy ai biết cách học và học được rộng, được nhiều như ông? Nhưng ngoài việc học rộng, học nhiều, Thái Tông còn bỏ sức tu tập, nghiệm sinh bằng chính đời sống tu hành của mình và rút ra được điều cốt tử của đời sống đó nằm ở Giới, Định và Tuệ: "Giới nghĩa là uy nghi; định nghĩa là không loạn; tuệ nghĩa là hiểu biết". Ba điều cốt tử này không biệt lập nhau mà là một quá trình chuyển tiếp. Nếu chỉ có Giới thì Tâm chưa thể định, nên phải có Định làm cho "Tâm đứng vững", Tâm vững rồi mới "nhận biết được sự chân thực" và Tuệ phát sinh là dựa trên cơ sở nhận biết được sự chân thực này. Có được Giới, Định, Tuệ rồi thì màn vô minh sẽ bị xé bỏ, con người được giải thoát và "dùng giới để trừ xu hướng theo điều ác; dùng định để trừ lòng ham muốn; dùng tuệ để trừ mọi ý thức về cái hiện hữu", Quốc sư Yên Tử khuyên Thái Tông "lặng lẽ mà hiểu" để đến được với "chân Phật" là như vậy.

* * *

Có thể chia cuộc đời của Trần Thái Tông thành hai giai đoạn lớn: một, làm vua ở Thăng Long từ 1225 đến 1258 và hai, lui về làm Thái thượng hoàng từ 1258 đến khi mất. Trong đó, biến cố năm Bính thân (1236) là một sự kiện có ý nghĩa quyết định về mặt tư tưởng. Từ Kinh đô, ông tìm lên Yên Tử rồi lại quay trở lại giữa kinh thành vừa trị nước vừa tu Phật, rồi cuộc hành trình đi tìm cái "bản lai diện mục", cái "gia hương" đích thực của ông thực chất là cuộc hành trình đi tìm chính cái Tâm của mình và Trần Thái Tông đã đạt được điều đó qua học hỏi, qua tu hành, và nhờ có ánh sáng của Tuệ giác nữa.lại văn hùng