THƠ VĂN TRẦN
THÁI TÔNG
Trần Thái
Tông - Nẻo Về Ðích Thực
Trần
Cảnh sinh ngày 16 tháng Sáu năm Mậu Dần (1218), niên hiệu
Kiến Gia thứ 8 đời Lý Huệ Tông. Lên tám tuổi làm Chi hậu
chính chi ứng cục, hầu cận Lý Chiêu Hoàng. Do sự sắp xếp
của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh kết duyên cùng Lý Chiêu Hoàng.
Ngày 11 tháng Chạp năm ất Dậu (1226), Chiêu Hoàng nhường
ngôi cho chồng, ông lên ngôi mở đầu cho nhà Trần, chấm
dứt nhà Lý. Năm Bính Thân (1236), do sức ép của Thủ Độ,
ông giáng vợ làm công chúa, lấy Thuận Thiên (là chị của
Chiêu Hoàng, lại là vợ của anh là Trần Liễu). Năm 1257 chỉ
huy và giành thắng lợi trong cuộc đọ sức với quân Nguyên
- Mông lần thứ nhất. Năm 1258, nhường ngôi cho con là Trần
Hoảng (tức Thánh Tông), làm Thái thượng hoàng. Ngày 1 tháng
Tư năm Đinh Sửu (1277), ông mất, miếu hiệu: Thái Tông. Từ
đây gọi là Trần Thái Tông. Ông là điển hình của sự dung
hợp Nho - Phật. Là một ông vua rồi Thái thượng hoàng, trị
vì suốt 50 năm, nhưng các tác phẩm hiện còn của ông lại
chuyên bàn về Phật.
Một
ngày mùa xuân năm 1236...
Trần
Thái Tông cùng vài người hộ giá ít ỏi rời bỏ kinh thành
Thăng Long, từ bỏ ngôi báu hướng về phía núi Yên Tử. Ông
ra đi như một kẻ chạy trốn. Nhưng ông chạy trốn cái gì
và đi tìm gì ở nơi thẳm xa và tĩnh lặng ấy?
Đến
Yên Tử, khi nghe Quốc sư hỏi: "Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ,
tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu
điều gì mà đến chốn này?" (Thơ văn Lý - Trần,
Tập II, Q. thượng. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.28.
Các trích dẫn dưới đây không ghi xuất xứ đều lấy từ
sách này), Thái Tông trả lời: "Trẫm đương trẻ thơ,
mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ
tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các đế vương thuở trước,
thay đổi bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn
được thành Phật".
Ta
biết là Thượng hoàng vừa mất năm 1234, khi Thái Tông đã
17 tuổi và đã làm vua được ngót mười năm. Xem ra cái lý
do: "Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất" không được
thuyết phục lắm. Còn "trơ vơ đứng trên thiên hạ, không
chỗ tựa nương" cũng thế. Chẳng phải ông đã từng có Trần
Thủ Độ - một người giúp rập hết lòng luôn ở bên cạnh
đó sao? Nhưng rắc rối chính lại nằm ở ông này. Thái Tông
tránh không nói, còn quốc sử lại chép khá rõ rằng: "Trần
Thủ Độ và công chúa Thiên Cực mật mưu với vua" (Đại
Việt sử ký toàn thư, Tập II, Kỷ nhà Trần, Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội, 1971, tr.15) để cướp vợ của anh là Trần
Liễu. Vì sao? vì mãi đến lúc ấy Chiêu Hoàng vẫn chưa có
con (Hành động này có vẻ vội vàng, bởi Chiêu Hoàng sau này
được gả cho Lê Phụ Trần và có tới 5 con) mà Thuận Thiên
thì đang có mang được ba tháng. Làm như thế là để lo cho
sự tiếp nối dòng dõi của vương triều, tộc họ, nhưng
khi Trần Liễu khởi loạn thì Thái Tông không khỏi "áy náy"
và đã trốn đi Yên Tử là vì thế. Cái hơn, cái được của
Thái Tông là đã không những không giết mà còn che chở cho
Trần Liễu khi Trần Liễu biết mình thế cô tự nguyện đến
hàng. Hành động ấy sau này được Dụ Tông ca ngợi:
Đường
Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Bỉ
xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong.
Kiến
Thành tru tử, Yên Sinh tại,
Miếu
hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
(Sáng
nghiệp Việt, Đường hai Thái Tông,
Đường
là Trinh Quán, Việt Nguyên Phong.
Kiến
Thành bị giết, Yên Sinh sống,
Miếu
hiệu như nhau, đức chẳng đồng) (Sđd, tr.45)
Nhưng
cũng có thể là Thái Tông đã ân hận thật sự - điều mà
đã có mấy vị "nhân chủ" có được? Bởi có quyền là có
thể làm tất cả! Thái Tông thì khác. Ông tuy phạm sai lầm
nhưng không ngại ngần hoặc đã biết cách làm giảm bớt
sai lầm như tiên nho từng chỉ dạy và an ủi: "Quá, tắc vật
đạn cải". Lại có thể Thái Tông tự nghĩ mình đã giải
quyết ổn thỏa mối quan hệ trên với anh ruột nên đã cố
tình lờ đi để hướng tới một nguyên nhân sâu xa hơn, bao
trùm hơn khi ông cảm nhận được một cách sâu sắc về sự
"bất thường" của "sự nghiệp các đế vương thuở trước".
Cái thịnh, cái suy như một nghiệp chướng và muốn tìm thấy
đạo thường để tránh khỏi cả suy lẫn thịnh, đạt đến
mức "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy" thì chỉ có cách cầu
"thành Phật". Nhưng Quốc sư đã trả lời ông thật xác đáng:
"Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng
lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật". Vậy thì ông
lên núi để làm gì khi mà Phật đã tiềm ẩn ngay trong cõi
lòng mình và chỉ cần lặng lẽ mà hiểu thôi! Cái động
thái lặng lẽ tưởng chừng như quá giản đơn ấy, Thái Tông
đã làm được chưa?
Quả
tình, trước khi có lời chỉ bày của Quốc sư, lòng ông chưa
lặng lẽ, ông mới chỉ hy vọng tìm thấy sự lặng lẽ, tịch
nhiên của Cảnh (cái giả tướng) mà chưa tìm được lối
thoát bằng cách quay trở lại với Tâm (cái chân tướng).
Do vậy, có thể nói Quốc sư đã cho ông một phương pháp
để đi đúng con đường mà ông hằng sở nguyện...
Theo
Trần Thủ Độ quay lại Kinh đô gánh vác tiếp trọng trách
của người phải "lấy tấm lòng của muôn dân làm tấm lòng
mình", Thái Tông đã quay về nơi ông từng ngộ nhận.
Với
tư cách là vị hoàng đế đầu tiên của cả một vương triều,
ông để lại khá nhiều chính tích trên cả hai phương diện:
nội trị và bang giao.
Sắp
xếp lại cái giang sơn đã cũ nát và suy yếu của nhà Lý,
Thái Tông một mặt biết dùng lại những nhân vật có tài
của tiền triều, một mặt biết dùng pháp trị để đưa
đất nước vào thế ổn định trở lại. Năm năm sau khi lên
ngôi, vào tháng Ba năm 1230 ông đã cho "xét các lệ của triều
trước, định làm thông chế của quốc triều và sửa đổi
hình luật lễ nghi, phàm 20 quyển (Sđd, tr.10). Thiết lập những
thiết chế hành chính chặt chẽ trên toàn Đại Việt, bắt
đầu từ Thăng Long,
Thái
Tông cho: "Định các phường về hai bên tả, hữu kinh thành...
chia làm 61 phường. Đặt ty Bình bạc(Chức Kinh doãn xét việc
kiện tụng ở Kinh đô, chú theo Sđd, tr.280). "Hoặc có làm
rộng thêm phía ngoài thành. Đại La, bốn cửa thành thì quân
Tứ sương, thay phiên nhau canh giữ" (Sđd, tr.10-11). Để công
việc triều chính đi vào thường lệ, ông cũng cho "chép công
việc của quốc triều làm bộ Quốc triều thường lễ, 10
quyển" (Sđd, tr.10-11). Khi Thượng hoàng cho tô tượng Phật
để thờ ở các đình trạm, Ngô Sĩ Liên xem việc này cũng
giống như việc "Vạn Hạnh bảo Lý Thái Tổ" (Sđd, tr.12) và
phê nhà Trần là "đầu têu của việc sùng Phật" (Sđd, tr.12).
Nhưng sùng Phật thì có gì sai? Chưa kể đến thâm ý của
hành động này là để nhắm vào việc cố kết lại nhân
tâm, làm cho lòng người bớt hoang mang, ly tán. Ai cũng biết
Phật giáo đời Lý và cả trước đó nữa đã từ lâu trở
thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tinh thần
dân tộc, nhà Trần là một triều đại mới lên, muốn phát
triển và được lòng người không gì bằng phải căn bản
dựa vào và đề cao yếu tố đó, làm ngược lại nghĩa là
chỉ tự chuốc lấy thất bại!
Như
trên, ta đã thấy Trần Thái Tông đã dám đứng ra ngăn Thủ
Độ, che trở cho An Sinh vương, và có lẽ cũng từ đấy ông
mới thực sự tự mình làm chủ vai trò của mình - vai trò
của người đứng đầu xã tắc.
Năm
1238, Thái Tông sai Trần Thủ Độ "duyệt định số đinh phủ
Thanh Hóa" (Sđd, tr.17). Bốn năm sau (1242), chia nước thành 12
lộ, đặt quan chức, duyệt hộ khẩu đến từng đơn vị
xã và để "trí thức hóa" hàng ngũ quan lại, hai năm sau (1244)
ông "sai các văn thần đi trị nhậm các phủ lộ trong nước"
(Sđd, tr.20), lại hai năm nữa (1246) định ra lệ "khảo duyệt
các quan văn võ trong ngoài" (Sđd, tr.21) và cũng định lệ thi
Tiến sĩ, cứ 7 năm một khoa" (Sđd. tr.21)...
Thực
ra, trước khi có lệ, nhà Trần đã tổ chức thi Thái học
sinh vào các năm 1232 và 1239, chưa kể một khoa thi Tam giáo
vào năm 1227. Như vậy chính sách nội trị của Thái Tông rất
chú trọng việc đào tạo nhân tài, tạo ra một tầng lớp
có học mới. Và chỉ 5 tháng sau khi có lệ, Thái Tông mở
ngay một khoa thi, khoa này lấy đỗ được những kẻ sĩ kiệt
hiệt như: Nguyễn Hiền (đỗ Trạng nguyên), Lê Văn Hưu (đỗ
Bảng nhãn, v.v... và cũng từ khoa này mới có lệ lấy Tam
khôi. Nhưng Thái Tông (và nói chung cả nhà Trần sau này) không
độc tôn Nho học; nếu như tháng Hai thi Tiến sĩ thì tháng
Tám mở ngay kỳ "thi các khoa thông Tam giáo" (Sđd, tr.21) và
cũng chia giáp, ất khoa để lấy đỗ người giỏi. Điều
này nói lên một chính sách không kỳ thị và biết thâu nhận
chất xám trong toàn thể cộng đồng của Thái Tông.
Từ
cuối năm 1243, Thái Tông đã ra sắc lệnh "đắp thành bên
trong gọi là thành Long Phượng và chữa lại Quốc Tử Giám"
(Sđd, tr.19), mười năm sau vào tháng Sáu năm 1253 ông lại "lập
Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công và á thánh,
vẽ tượng 72 người hiền để thờ" (Sđd, tr.25), rồi đến
tháng Chín thì xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến
Quốc tử viện giảng học tứ thư lục kinh" (Sđd, tr.25). Năm
1256, Thái Tông lại mở khoa thi nữa lấy đỗ 2
Trạng
nguyên (một kinh, một trại), 1 Bảng nhãn, 1 Thám hoa và 43
Thái học sinh (Tiến sĩ). Xem ra trong khoảng 30 năm và nhất
là 20 năm sau (kể từ 1236 đến 1256) chính sách đào tạo nhân
tài của Thái Tông đã đi vào nề nếp, quy củ và có kết
quả, thể hiện một tầm nhìn vừa tinh sâu vừa thoáng rộng.
Có
tài về nội trị nhưng phải nói khả năng bang giao và quân
sự của Thái Tông cũng rất đặc sắc, mang đậm dấu ấn
của tuổi trẻ và cá tính ông.
Nhà
Lý suy yếu, Chiêm Thành sang cướp luôn. Từ khi Trần Thái
Tông lên ngôi, sứ Chiêm sang cống khá nhiều nhưng lại có
ý đòi đất cũ và nhòm ngó Đại Việt, Thái Tông thân chinh
cầm quân đi đánh dẹp, vừa răn đe, vừa để tỏ rõ chủ
quyền. Trước đó, Thái Tông cũng tự cầm quân đánh các
trại Vĩnh An, Vĩnh Bình rồi lại giả xưng Trai lang để đi
qua các châu Khâm và Liêm. Giữ hòa hiếu với nước Tống
ở phương Bắc nhưng ý thức về độc lập dân tộc ở Thái
Tông
là rất rõ rệt. Chỉ vì một gói phẩm vật tiến cống không
đến nơi thôi, Thái Tông đã cho Thân vệ tướng quân Trần
Khuê Kính đánh lấy Bằng Tường để "được thông hiếu".
Chịu nhận sự thụ phong của nhà Tống nhưng biên ải lúc
nào cũng nghiêm mật, và kể cả khi bị quân Nguyên vây ép
- khi mà Tướng quốc thái úy Nhật Hạo đã tỏ ra nao núng
và lấy tay viết lên mạn thuyền hai chữ "nhập Tống", Thái
Tông cũng kiên quyết chối từ. Nhà Tống đã mất về tay
quân đội Nguyên - Mông, nhưng nhà Trần thì không những trụ
lại được, mà Thái Tông còn trực tiếp xông pha tên đạn
và chỉ huy cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Hào khí Đông
A, có thể nói bắt đầu là từ Thái Tông vậy!
Có
ai ngờ một ông vua như thế lại đã từng là người tự
vứt bỏ ngai vàng, từ giã cả kinh kỳ để lên núi đi tìm
Phật. Mới nghe tưởng chừng như mâu thuẫn và cũng tưởng
như trong con người Thái Tông đồng thời có hai con người
khá cách biệt nhau. Nhưng chẳng phải chính ông đã quan niệm
rất hay về tính thống nhất và sự cần thiết phải tựa
nương nhau giữa hai hệ phái Nho và Phật khi viết: "Phương
tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng
tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật. Đặt
mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy
là trách nhiệm của tiên thánh [...] Như thế đủ biết đại
giáo của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại
cho đời". Do thế, ngay trong thời gian trị vì ông vẫn nhớ
lời Quốc sư, rất chăm chỉ nghiên tầm giáo lý nhà Phật,
ông còn lập Viện Tả nhai (Theo Việt Nam Phật giáo sử luận,
tập 1 Nxb Văn học, Hà Nội, 1992, tr 261, 262) để cùng các
vương hầu tham vấn Phật đạo và đặt ra chức Tả nhai để
phong cho người có phẩm trật cao nhất của Tăng đạo. Tại
Viện này ông đã học các bậc thầy như Trúc Lâm và Tức
Lự, ông cũng đã chịu ảnh hưởng không ít của các đạo
hữu như Đại Đăng, ứng Thuận và Thiên Phong. Trong đó, đặc
biệt ông hội nhập được nhiều công phu tu tập của phái
thiền Lâm Tế qua Thiên Phong.
Trong
quá trình ấy, khi đọc đến một bộ kinh Phật nổi tiếng
là kinh Kim cương gặp câu: Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm
(cái tâm là kỳ diệu, tự đầy đủ, trong sáng, trường tồn,
bất biến, không bị lệ thuộc vào một sự vật, nơi chốn
nào) ông thốt lên vui sướng, thường "gấp sách lại mà ngâm
nga" mãi câu này. Rồi ông tự viết bài Tựa cho bộ kinh. Ông
băn khoăn: "Chúng sinh từ lâu đã bị thói quen của "nghiệp"
hun nhiễm, thần thức lại thường chịu sóng gió của "tri
kiến" lung lay, thì làm thế nào?", trong khi chẳng có mấy ai
chịu: "Rời bỏ nết ô trọc che trùm" và "xoay vầng sáng [của]
tuệ chiếu soi", cho nên "những khiến lang thang khắp chốn,
mờ mịt lối về", cũng tức là lâm vào tình trạng: "Thật
giả khó phân. Vàng ròng lẫn với đồng thau; trăng sáng hiện
cùng bụi bặm", đến nỗi "Quê hương, lầm về nơi "không
chốn"; mặt mũi, quên dáng nét nguyên xưa".
Tình
trạng đó thật mờ mịt và thảm hại. Luận về Bốn núi
(Tứ sơn: sinh, lão, bệnh, tử), Thái Tông vẫn triển khai ý
tưởng này. Người ta sinh ra đẹp đẽ là thế, mà theo ông:
Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật
viễn gia hương vạn lý trình.
(Mãi
mãi làm khách phong trần trôi dạt,
Ngày
càng xa quê hương muôn vạn dặm đường).
đến
khi già lão rồi, mọi việc như càng buông xuôi hơn:
Thế
sự thao thao hồn bất cố,
Tịch
dương Tây khứ, thủy Đông lưu.
(Đoái
nhìn chi cuộc đời cuồn cuộn,
Mặt
trời ngả về Tây và nước chảy về Đông).
và
khi đã tật bệnh mới cảm thấy phải:
Tảo
nguyện viễn ly ma cảnh giới,
Hồi
tâm hướng đạo dưỡng thiên chân.
(Mong
sớm rời xa cõi ma quỷ,
Hồi
tâm về đạo, nuôi dưỡng thiên chân).
nhưng
hình như đã quá chậm bởi lẽ cái chết đã gần kề. Và
có chăng chỉ có cái chết mới đạt được một giải pháp:
Tạm
thời trần liễm thiên biên tĩnh,
Nguyệt
lạc trường giang dạ kỷ canh.
(Tạm
thời bụi cuốn bên trời trong sạch,
Trăng
rơi trên sông dài, đêm đã mấy canh).
lại
cũng chỉ là một giải pháp "tạm thời". Tất cả đều có
vẻ ắng lặng, mơ hồ, không gian thời gian lẫn lộn, nhạt
nhòa nhưng vẫn không phải niết bàn, vẫn không phải nơi
về đích thực dù đã được đặt cược bằng cái chết.
Vậy, vấn đề là phải vượt lên cả Bốn núi, vượt lên
được "sắc thân", mới mong thoát được cái cảnh: "Khởi
đầu, sinh thực hóa sinh, nơi đến, mộng tràn nói mộng. Lăn
lăn lộn lộn, vội vội vàng vàng; lấy ảo làm chân, bỏ
không theo sắc", mới mong thoát được cái kết cục: "Hết
thảy đều để cho "Tâm" rời bỏ; không làm sao trở gót quay
về".
Viết
được những lời bàn luận như trên Thái Tông đã không quản
ngại bỏ ra hàng chục năm ròng để vừa "học sách Nho rồi
còn học kinh Phật". Ông không hề nói suông khi muốn răn dạy,
chỉ đường cho chúng sinh. Theo ông, muốn tinh tiến không gì
bằng phải dày công tu học. Thái Tông từng viết ở Tựa
Thiền tông chỉ nam: "Mỗi khi được rảnh việc trẫm lại
hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền.
Còn như các kinh điển của Đại giáo thì không kinh nào không
nghiên cứu" và nhấn mạnh lại ở Tựa Kim Cương tam muội:
"Trẫm lượng đức chủ trì ngôi báu, rồi trước sau chăn
dắt muôn dân. Từng lo vất vả; chẳng ngại sớm hôm. Tuy
một ngày trăm việc, cũng trộm lúc rảnh rang. Chăm việc tiếc
giờ; học càng tăng tiến. Một chữ "đinh" lo chưa biết đến,
đêm canh hai còn gắng tìm xem"...
Trên
kia, ta đã thấy làm vua có mấy ai nhân và thứ được như
Thái Tông, giờ đây ta lại thấy làm vua có mấy ai biết cách
học và học được rộng, được nhiều như ông? Nhưng ngoài
việc học rộng, học nhiều, Thái Tông còn bỏ sức tu tập,
nghiệm sinh bằng chính đời sống tu hành của mình và rút
ra được điều cốt tử của đời sống đó nằm ở Giới,
Định và Tuệ: "Giới nghĩa là uy nghi; định nghĩa là không
loạn; tuệ nghĩa là hiểu biết". Ba điều cốt tử này không
biệt lập nhau mà là một quá trình chuyển tiếp. Nếu chỉ
có Giới thì Tâm chưa thể định, nên phải có Định làm
cho "Tâm đứng vững", Tâm vững rồi mới "nhận biết được
sự chân thực" và Tuệ phát sinh là dựa trên cơ sở nhận
biết được sự chân thực này. Có được Giới, Định, Tuệ
rồi thì màn vô minh sẽ bị xé bỏ, con người được giải
thoát và "dùng giới để trừ xu hướng theo điều ác; dùng
định để trừ lòng ham muốn; dùng tuệ để trừ mọi ý
thức về cái hiện hữu", Quốc sư Yên Tử khuyên Thái Tông
"lặng lẽ mà hiểu" để đến được với "chân Phật" là
như vậy.
* *
*
Có
thể chia cuộc đời của Trần Thái Tông thành hai giai đoạn
lớn: một, làm vua ở Thăng Long từ 1225 đến 1258 và hai, lui
về làm Thái thượng hoàng từ 1258 đến khi mất. Trong đó,
biến cố năm Bính thân (1236) là một sự kiện có ý nghĩa
quyết định về mặt tư tưởng. Từ Kinh đô, ông tìm lên
Yên Tử rồi lại quay trở lại giữa kinh thành vừa trị nước
vừa tu Phật, rồi cuộc hành trình đi tìm cái "bản lai diện
mục", cái "gia hương" đích thực của ông thực chất là cuộc
hành trình đi tìm chính cái Tâm của mình và Trần Thái Tông
đã đạt được điều đó qua học hỏi, qua tu hành, và nhờ
có ánh sáng của Tuệ giác nữa.lại văn hùng