THƠ VĂN TRẦN
THÁI TÔNG
*
Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn
*
Thiền tông chỉ nam tự
Phiên
âm:
Ký
thanh phong am tăng đức sơn
Phong
đả tùng quan 1* nguyệt chiếu đình,
Tâm
kỳ phong cảnh cảnh cộng thê thanh.
Cá
trung tư vị vô nhân thức,
Phó
dữ sơn tăng lạc đáo minh.
Dịch
nghĩa:
Gửi
nhà sư đức sơn ở am thanh phong
Gió
đập cổng thông, trăng sáng trước sân,
Lòng
hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ,
Bao
nhiêu thú vị trong đó không ai hay,
Mặc
cho nhà sư trong núi vui đến sáng.
Dịch
thơ:
Gió
đập cửa thông, trăng lấp loáng,
Lòng
đây, cảnh đấy cùng thanh sảng,
Bao
nhiêu thú vị chẳng ai hay,
Mặc
kệ cho sư vui đến sáng,
Nguyễn
đổng Chi
(Việt
Nam cổ văn học sử)
Khảo
đính:
1*
Trong Toàn Việt thi lục: gian
dịch
nghĩa:
Tựa
thiền tông chỉ nam (1)
Trẫm
thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm;
tính người có trí ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt.
Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội; con đường
tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của đức Phật.
Đặt mực thước cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai,
ấy là trách nhiệm của tiên thánh. Cho nên Lục tổ (2) có
nói: "Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác
gì nhau". Như thế đủ biết đại giáo của đức Phật ta
phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời. Thế thì nay
lẽ nào trẫm không coi trách nhiệm của tiên thánh là trách
nhiệm của mình, giáo lý của đức Phật là giáo lý của
mình ư!
Vả
thuở trẫm còn niên thiếu, hiểu biết mới võ vẽ, được
nghe loáng thoáng lời dạy bảo của thiền sư đã dập tắt
ngay mọi điều vương vấn; lòng thốt nhiên trong lặng, để
tâm vào nội giáo (3), tham cứu đạo Thiền, dốc lòng tìm
thầy, thành khẩn mộ đạo. Tuy nhiên, cái ý hồi tâm hướng
đạo đã nảy mầm mà cái cơ cảm xúc còn chưa thấu. Vừa
mười sáu tuổi, Thái hậu đã chán cõi trần; trẫm nằm rơm
gối đất, huyết lệ nát lòng; ngoài nỗi ưu phiền, nghĩ
đâu việc khác. Thế rồi mới vài năm sau, Thái Tổ hoàng
đế lại bỏ ngôi trời (4). Niềm nhớ mẹ chưa nguôi, tình
thương cha càng nặng (5). Ngổn ngang đau xót, khó nỗi khuây
lòng. Trẫm nghĩ: cha mẹ vỗ về nuôi nấng con không thiếu
cách gì, con dù thịt nát xương tan cũng không đủ báo đền
trong muôn một. Huống chi, đấng hoàng khảo Thái Tổ ta xây
dựng cơ nghiệp rất mực gian nan, trị nước giúp đời lại
càng khó nhọc. Người đem ngôi báu trao lại cho trẫm từ
lúc ấu thơ, khiến trẫm đêm ngày lo sợ, không chút thảnh
thơi. Trẫm tự bảo mình: trên đã không có cha mẹ để tựa
nương, dưới lại e chẳng xứng với lòng dân trông đợi,
biết làm thế nào? Suy đi nghĩ lại, không gì hơn lui về chốn
núi rừng tìm học đạo Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn của
việc sống chết, cũng đền đáp công ơn khó nhọc của mẹ
cha, thế chẳng tốt hơn sao? Thế là chí trẫm đã quyết.
Đêm mồng ba tháng Tư năm Bính Thân, niêu hiệu Thiên ứng
Chính Bình thứ năm (6), trẫm cải dạng ra khỏi cửa cung rồi
bảo với tả hữu rằng: "Trẫm muốn ra ngoài chơi để lắng
nghe tiếng nói của dân, xem xét lòng dân, ngõ hầu biết được
mọi khó khăn của công việc".
Bấy
giờ tả hữu đi theo trẫm chỉ bảy tám người. Giờ hợi
đêm ấy trẫm cưỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; qua sông về
hướng đông, mới mang tình thực nói với tả hữu. Họ đều
ngạc nhiên, rơi nước mắt. Giờ mão hôm sau đến bến đò
núi Phả Lại, sông Đại Than. Sợ có người biết, trẫm lấy
áo che mặt qua sông rồi đi tắt theo đường núi. Đến tối
vào nghỉ ở chùa Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Lặn lội
vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa mỏi không tiến lên được
nữa, trẫm liền bỏ ngựa vin vách đá mà lần bước. Giờ
mùi mới đến sườn núi Yên Tử (7). Sáng hôm sau lên thẳng
đỉnh núi, vào yết kiến vị Quốc sư là đại sa môn phái
Trúc Lâm. Quốc sư vừa thấy trẫm thì mừng rỡ, rồi ung
dung bảo rằng:
- Lão
tăng ở nơi sơn dã đã lâu, xương gầy mặt võ, ăn rau đắng,
nếm trái cây, chơi cảnh rừng, uống nước suối, lòng như
mây nổi, theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ,
tìm sự nghèo hèn nơi rừng núi, chẳng hay bệ hạ muốn cầu
điều gì mà đến chốn này?
Trẫm
nghe sư nói, rơi hai hàng nước mắt, đáp lại rằng:
- Trẫm
đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, chơ vơ đứng trên dân
chúng, không chỗ tựa nương; lại nghĩ sự nghiệp các đế
vương thuở trước, thay đổi bất thường, cho nên tìm đến
núi này chỉ muốn được thành Phật, chứ không cầu gì khác.
Sư
nói:
- Trong
núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng. Lòng lặng
lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác
ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công
tìm kiếm bên ngoài.
Bấy
giờ thúc phụ Trần Công (8) là em họ tiên quân, người được
gửi gắm đứa con côi khi tiên quân bỏ quần thần, trẫm
đã phong làm Thái sư, tham dự quốc chính, nghe tin trẫm bỏ
trốn liền sai người tìm kiếm khắp nơi; rồi ông cùng các
bậc quốc lão tìm đến núi này. Gặp trẫm, ông đau đớn
nói:
- Thần
nhận sự ủy thác của tiên quân, tôn phụng bệ hạ làm chúa
tể dân thần. Lòng dân kính yêu trông đợi bệ hạ chẳng
khác nào con nhỏ quyến luyến mẹ cha. Huống chi các cố lão
trong triều ngày nay chẳng một ai không là bề tôi thân thuộc,
chúng dân sĩ thứ chẳng người nào không vui vẻ phục tòng.
Cho đến đứa trẻ lên bảy (9) cũng biết bệ hạ là bậc
cha mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nắm đất trên
mồ chưa khô, lời trăng trối bên tai còn đó. Thế mà bệ
hạ lại lánh gót ẩn cư nơi núi rừng để theo đuổi cái
chí riêng mình. Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu đã
vậy nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu chỉ để lời
nói suông lại cho đời sau, sao bằng đem thân mình làm gương
trước cho thiên hạ. Nhược bằng bệ hạ không nghĩ lại
thì chúng thần và người trong nước xin cùng chết ngay hôm
nay, quyết không trở về nữa!
Trẫm
thấy Thái sư cùng các kỳ lão khăng khăng không chịu bỏ
trẫm, liền đem lời nói ấy bày tỏ với Quốc sư. Quốc
sư cầm tay trẫm nói:
- Phàm
đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ
làm ý muốn của mình; lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm
lòng của mình. Nay muôn dân đã muốn đón bệ hạ về thì
bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội
điển xin bệ hạ đừng chút sao lãng mà thôi.
Vì
thế trẫm cùng mọi người trở về Kinh, miễn cưỡng lên
ngôi. Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi được rảnh việc
trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn
đạo Thiền. Còn như các kinh điển của đại giáo thì không
kinh nào không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim cương,
đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" (10) vừa gấp sách
lại ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh ngộ, liền đem những điều
giác ngộ được làm bài ca này, đặt tên là Thiền tông chỉ
nam.
Năm
ấy Quốc sư từ núi Yên Tử về Kinh, trẫm cho ở chùa Thắng
Nghiêm để trông coi việc khắc bản in kinh sách. Nhân đó,
trẫm đưa bài ca cho Quốc sư xem. Mới đọc qua một lần,
sư đã mấy phen tán thưởng, nói:
- Tấm
lòng của chư Phật ở cả trong bài ca này, sao không khắc
in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học?
Trẫm
nghe lời sư, sai thợ viết chữ chân phương rồi truyền cho
khắc bản. Chẳng riêng để chỉ dẫn đường mê cho đời
sau mà còn muốn mở mang công nghiệp của các thánh nhân thuở
trước. Vì thế trẫm làm bài tựa này.
Nguyễn
đức Vân - Băng Thanh dịch
Chú
thích:
(1)
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vì hoàng hậu Chiêu Thánh
lâu chưa có con, Trần Thủ Độ bắt Trần Thái Tông phế đi,
và cướp vợ Trần Liễu (anh ruột ông; bà này là chị ruột
Chiêu Thánh) lúc đó đang có thai lập làm hoàng hậu. Trần
Liễu tức giận họp quân làm loạn. Thái Tông vì thế chán
việc đời, bỏ ngôi vua vào tu ở núi Yên Tử. Sau Thủ Độ
dắt quần thần tìm đến khuyên giải và ép trở về.Tác
phẩm Thiền Tông chỉ nam ca đã mất, chỉ còn lại bài tựa
này.
(2)
Lục tổ: tức sư Tuệ Năng (?-713), họ Lư, người Lĩnh Nam,
là học trò Thiền sư Hoằng Nhẫn, tổ thứ năm dòng Thiền
tông Trung Quốc, trụ trì ở chùa Bảo Lâm, núi Tào Khê, Thiều
Châu. Ông được Hoằng Nhẫn truyền y bát làm tổ thứ sáu,
nhưng Thiền tông đến ông thì chia làm hai: Nam tông và Bắc
tông, Tuệ Năng là người mở đầu của Nam tông. Bắt đầu
từ ông, Thiền tông không truyền y bát nữa.
(3)
Nội giáo: cũng như đại giáo đều chỉ đạo Phật; các thuật
ngữ như nội điển, đại tạng đều chỉ kinh sách của đạo
Phật.
(4)
Sau khi lên ngôi, Thái Tông tôn bố (Trần Thừa) làm thượng
hoàng và mẹ làm hoàng thái hậu. Theo bài tựa này, bà mẹ
Trần Thái Tông mất năm ông 16 tuổi, nhưng Đại Việt sử
ký toàn thư lại chép hoàng thái hậu mất năm Canh Dần (1230)
lúc Thái Tông 12 tuổi, Trần Thừa mới mất năm Giáp Ngọ
(1224), Thái Tông 16 tuổi. Không rõ tài liệu nào đúng.
(5)
Niềm nhớ mẹ (bôi quyên chi mộ): bôi quyên là cái chén, cái
môi. Kinh Lễ chép: mẫu một nhi bôi quyên bất năng ẩm yên:
nghĩa là: mẹ chết, cái chén, cái môi không nỡ uống.Lòng
thương cha (sang cự chi tâm): Sang cự là vết thương lớn,
xuất xứ từ chữ sang cự thống thâm: vết thương đau xót.
Tác giả ví nỗi đau xót mất cha như một vết thương lớn.
(6)
Mồng 3 tháng Tư năm Bính Thân tức 9-5-1236.
(7)
Yên Tử: một dãy núi thuộc huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn,
nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
(8)
Trần Công: tức Trần Thủ Độ, chú của Trần Cảnh; người
rất có công trong việc xây dựng nhà Trần và đất nước
thời đó.
(9)
Đứa trẻ lên bảy: nguyên văn: đứa trẻ cao ba xích, khoảng
1m20, ước chừng 7, 8 tuổi.
(10)
Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm: một câu quan trọng của kinh
Kim cương (tên gọi đầy đủ là Kim cương bát nhã ba la mật
đa, tiếng Phạn là Vajraprojna - poramita - Sutra, tên kinh có nghĩa
là bộ kinh giúp cho người ta phá bỏ mọi phiền não một
cách nhanh chóng để đến bờ chính giác, thành Phật). Bộ
kinh này vốn được viết bằng tiếng Phạn, Cưu-ma-la-thập
(Kumara-jiva), đầu thế kỷ thứ năm sang Trung Quốc mới đem
dịch ra tiếng Hán. Câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm được
nhiều người đề cập đến, Lục tổ giảng như sau:Hà kỳ
tự tính? Bản tự thanh tịnh. Hà kỳ tự tính? Bản tự sinh
diệt. Hà kỳ tự tính? Bản tự cụ túc. Hà kỳ tự tính?
Bản vô động dao? Hà kỳ tự tính? Năng sinh vạn pháp. Thức
đắc thử tâm, diệu trạm viên tịch, bất nệ phương sở,
bản vô sở sinh.
Nghĩa
là:
Thế
nào là tự tính? Vốn tự nó thanh tịnh. Thế nào là tự tính?
Vốn nó tự sinh ra và mất đi. Thế nào là tự tính? Vốn
tự nó đầy đủ. Thế nào là tự tính? Vốn nó không lay
động. Thế nào là tự tính? Nó có thể sinh muôn vạn sự
vật. Phải hiểu cái tâm ấy kỳ diệu sâu sắc, tròn vẹn
lặng lẽ, không lệ thuộc vào nơi chốn, không từ đâu sinh
ra. Câu này muốn khuyên người học đạo phải hiểu được
vạn vật là không, cái tâm là kỳ diệu, tự đầy đủ, trong
sáng, trường tồn bất biến, không bị lệ thuộc vào một
sự vật, nơi chốn nào.
Xem
Tiếp Trang 2