NHỮNG
KHÁM PHÁ KỲ DIỆU VỀ
DI LIỆU
VĂN HỌC PHẬT GIÁO KHAROSTHÌ (AFGHANISTAN)
Phật
Ðiển Hành Tư
Cách
đây không lâu, cả thế giới đã lên tiếng phản đối hành
động điên cuồng phá hủy hai tôn tượng Phật bằng đá
cao nhất thế giới tại Bamiyan (Afghanistan) của chính quyền
Taliban cực đoan. Sau hành động phá hoại đó, không ít người
ngỡ rằng những di tích nền văn minh cổ xưa của Phật giáo
tại nơi đây đã bị hủy diệt hoàn toàn; tuy nhiên, điều
đó thực tế đã không phải như vậy. Cách đây gần một
thập niên, giới khảo cổ học đã khai quật và phát hiện
ở Bamiyan những di liệu văn học Phật giáo hết sức kỳ
diệu, những minh chứng hùng hồn cho một giai đoạn phát triền
rực rỡ của Phật giáo tại nơi này một trung tâm Phật giáo
quan trọng ngoài Ấn Ðộ. Sự phát triển đó đá tạo nên
một nền văn minh riêng biệt, gọi là nền văn minh Phật giáo
Gandhàra.
Gandhàra (phiên
âm Hán-Việt là Càn-đà-la), cái tên có thể xa lạ ngay chính
với những người học Phật, thực sự là địa danh bao gồm
Taxila, Peshawar, Gilgit, Hadda, Jalalabad, Kabul và Bamiyan, vùng đất
mới vừa gây nên một làn sóng phẫn nộ quốc tế vừa kể,
nay là Peshawar thuộc miền Bắc Punjab, gần biên giới giáp
ranh phía Bắc Pakistan và phía Ðông Afghanistan.
Gandhàra một
thời là trung tâm văn hóa thiêng liêng của Phật giáo, là
cái nôi của nghệ thuật, điêu khắc, văn hóa, triết lý và
học thuật lừng danh thế giới. Những di liệu khảo cổ tìm
thấy tại Taxila, Peshawar, Gilgit, Charsadda, Takht Bhai, Hadda, Jalalabad,
Swat và những thạch khắc (rock carvings) dọc theo “Con Ðường
Lụa” cổ xưa (Ancient Silk Road) đều là những chứng tích
cho lịch sử một thời cực thịnh của Gandhàra.
Do đó, mà
ta không ngạc nhiên khi chính ngay tại vùng Gandhàra này, một
khám phá kỳ diệu đã xảy ra. Khoảng đầu năm 1994, một
nhà hảo tâm ẩn danh đã mang đến tặng Thư viện Quốc gia
Anh (British Library) ba chậu đất nung có khắc chữ (inscribed
clay pots), chữ Kharosthì, một dạng cổ tự được dùng nhiều
nhất tại vùng Gandhàra khoảng hai ngàn năm trước, rồi thầm
lặng ra đi, không để lại tung tích. Các nhà bảo trì di liệu
khảo cổ (curators & conservators) tại Thư viện Quốc gia
Anh đã giả thiết rằng các chậu đất nung này có thể mang
một ý nghĩa đáng kể nào đó, nên liên lạc ngay với một
học giả cổ ngữ Ấn Ðộ tại Ðại học Washington, thuộc
thủ phủ Seatle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, để định giá
chúng. Quả nhiên, giáo sư Richard Salomon, giáo sư Phạn ngữ
(Sanskrit), Phân khoa Ngôn ngữ và Văn học Á châu của đại
học này, sau một thời gian khảo sát và giải mã chúng, đã
chứng nhận đây là những cuộn kinh văn Phật điển cổ xưa
nhất được tìm thấy.
Thế là vào
tháng 9 năm 1994, Văn phòng Sưu tập Tư liệu Ðông phương và
Ấn Ðộ học của Thư viện Quốc gia Anh (The British Library's
Oriental and Indian Office Collections) chính thức công bố cùng
thế giới là “đã thu tập được một bộ di liệu gồm
29 cuộn (scrolls) ghi khắc nhiều đoạn phiến (fragments) các
bản kinh văn Phật giáo bằng chữ Kharosthì. Các bản kinh văn
này được ghi khắc trên vỏ cây bu lô (tiếng Phạn gọi là
cây bhoja-patra, birch bark) và cất giấu bên trong ba chậu bằng
đất nung có khắc chữ (inscribed clay pots), cũng bằng chữ
Kharosthì, một dạng cổ tự chính được sử dụng tại trung
tâm Gandhàra(1). Các chuyên gia Phật học và Cổ ngữ học đã
thẩm định thời gian ghi khắc các di liệu này là vào khoảng
từ đầu thế kỷ I đến giữa thế kỷ II sau dương lịch;
như vậy đây có lẽ là những di liệu về Phật kinh cổ xưa
nhất được tìm thấy từ trước đến nay”.
Phải chăng
có một thiêng liêng đã ứng hiện để bảo tồn các bản
kinh này, bởi vì ít nhất ra, kinh văn có thể di chuyển dễ
dàng và nhẹ nhàng hơn, trong khi hai hai tôn tượng tại Bamiyan
kia, cùng những tượng lớn nhỏ khác, đành chịu số phận
vô thường, không phải của thời gian, mà là tâm địa ác
độc của những thế lực cuồng tín Taliban. Như thế, không
đáng gọi là kỳ diệu hay sao?
Graham Shaw,
Phó Giám đốc Văn phòng Sưu tập Thư viện Quốc gia Anh, tuyên
bố: “Sự khám phá những di liệu này tạo cơ hội cho học
giả tiến gần thêm hơn một bước nữa trong việc tìm hiểu
những giáo pháp do chính Ðức Phật dạy, cùng là ngôn ngữ
(languages) hay thổ ngữ (dialects) nào do chính Ðức Phật dùng
để giảng dạy những giáo pháp đó. Ngoài ra, chúng còn có
thể chứng thực thêm cho tính xác thực của các kinh điển
được tập thành về sau”.
Cuộn kinh
Gandhàra (Gandhàra Scrolls)
Richard Salomon,
một trong rất ít học giả có thể đọc được cổ tự Kharosthi
– dựa theo tự dạng Prakrit, được dùng rộng rãi tại Gandhàra
cho nên gọi chung là cổ ngữ Gandhàri – trên thế giới, sau
một thời gian làm việc hăng say cùng một nhóm chuyên gia cộng
sự, đã kết khâu lại được khoảng 80 đoạn phiến và xếp
thành 20 bản kinh, dĩ nhiên là không đầy đủ, có bản chỉ
còn một vài câu, bản dài nhất được ít trăm hàng. Bắt
đầu từ đây, những di liệu đã được nhận diện, thành
hình và được mệnh danh là Cuộn kinh Gandhàra (Gandhàra Scrolls),
đôi khi cũng gọi là British Library Kharosthì Scrolls, tuy chẳng
có bản kinh nào được hoàn toàn và mới chỉ có hơn một
phần ba là được nghiên cứu tới cách sơ bộ.
Sau khi Ðức
Phật nhập Niết bàn năm 483 trước dương lịch, giáo pháp
của Ngài được khẩu truyền từ thế hệ Tăng già này đến
thế hệ khác trải qua hàng mấy trăm năm, mãi đến thế kỷ
đầu kỷ nguyên dương lịch mới được tập thành vào văn
tự. Tuy nhiên, những bản kinh văn lần đầu tiên được tập
thành bằng chữ viết hiện nay không còn tồn tại, và ta cũng
không biết là chúng được ghi chép bằng ngữ tự gì. Salomon
nói rằng ông rẩt tin tưởng rằng Cuộn kinh Gandhàra này có
từ thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên dương lịch, bởi vì
chúng có đề cập đến một tiểu vương (satrap) tên Jihonika,
được biết qua các bia văn (inscriptions) và trên mặt các đồng
tiền (coins), người cai trị Gandhàra vào thời đó. Nếu đúng
thế, thì Cuộn kinh Gandhàra này sẽ rất cổ, đến 400 năm
trước tất cả những kinh văn bằng Hán tự, Tây Tạng, Phạn
hay Pàli ngữ mà hiện nay ta đang có. Và cũng có thể là những
bản kinh được ghi khắc lần đầu tiên khi văn tự được
sử dụng tới, tuy nhiên, ta chưa có cơ sở nào để có thể
kết luận như vậy.
Thế rồi
Thư viện Quốc gia Anh, sở hữu chủ của các thủ bản vừa
được thu tập, và Ðại học Washington, nơi giáo sư Richard
Salomon giảng dạy, thiết lập một chương trình hợp tác giữa
Thư viện Quốc gia Anh và Ðại học Washington về “Dự án
Nguyên cảo [Kinh văn] Phật giáo Sơ thời” (The British Library/University
of Washington Early Buddhist Manuscripts Project, viết tắt EBMP), và
đề cử Salomon làm trưởng chương trình. Dự án trù định
cho 3 năm đầu, để soạn thảo hai tác phẩm, trong tương lai,
có thể là phải cần đến 12 hay 15 tác phẩm mới có thể
hoàn tất Dự án này.
Nhưng cũng
phải đợi đến 5 năm trời dày công nghiên cứu, Dự án đó
mới có thể xuất bản tác phẩm đầu tiên, mang tựa đề:
“Ancient Buddhist scrolls from Gandhàra; The Brittish Library Kharosthì
Fragments, edited by Richard Salomon, with contributions by Frank Raymond
Allchin and Mark Barnard. Seatle: University of Washington Press, 1999”(2).
Sách gồm
273 trang, trình bày 96 phóng ảnh, trắng đen có, màu có, mô
tả đầy đủ hình thức của các thủ bản, cùng những nghiên
cứu nội dung của các kinh này, đồng thời định giá sơ
bộ ý nghĩa và giá trị của chúng trong toàn bộ kinh văn sử
Phật giáo. Sách cũng gồm nhiều hình ảnh tiêu biểu cho các
bản kinh, trình bày những đoạn đã giải mã được và phần
phiên dịch chúng ra Anh văn. Ðiều quan trọng khiến ta phải
kinh ngạc và đáng chú ý là trong số các thủ bản này, có
một số bản kinh không quen thuộc, chưa hề được biết đến
xưa nay. Trong số gần 30 thủ bản được khám phá đó, phần
lớn vẫn chưa được nhận diện hay so sánh với các bản
kinh Phật đã được biết đến hay lưu truyền bằng các ngôn
ngữ hay truyền thổng hoặc hệ phái khác nhau. Chúng được
xem như là các tài liệu về Phật giáo cổ xưa nhất được
tìm thấy, và cũng có thể là di liệu cổ xưa nhẩt của nền
văn minh Ấn Ðộ nữa.
Tác phẩm
Ancient Buddhist scrolls from Gandhàra gồm cả một cataloge mô tả
tường tận các văn bản vừa được khám phá, đồng thời
cung ứng một số văn bản tượng trưng trong khi chờ đợi
một công trình dài hạn để nghiên cứu kỹ lưỡng, phân
tích, phiên dịch và thuyên giải từng bản văn một. Một
công trình như thế sẽ được giới thiệu qua nhiều đợt
(series), gồm nhiều tác phẩm với sự đóng góp của nhiều
học giả Ấn Ðộ học, Phật học, văn minh và khảo cổ học.
Ðức Ðạt lai Lạt ma đã viết trong lời giới thiệu cho tác
phẩm Ancient Buddhist Scrolls from Gandhàra : “... Những cuộn
kinh khắc trên vỏ cây bulô này sẽ cống hiển cho chúng ta
một bằng chứng bằng văn tự sớm nhất về chính những
lời dạy nguyên thủy của Ðức Phật. Chúng cũng cho chúng
ta biết những lời dạy này được học tập, bảo tồn và
thấu hiểu như thế nào vào thời hai ngàn năm trước".
Thực vậy,
những thủ bản này sẽ soi sáng đặc thái địa phương tính
của những truyền thống sơ thời Phật giáo Ấn Ðộ, tiến
trình đưa tới sự hình thành của kinh tạng bằng văn tự
tiêu chuẩn, và sự truyền bá của Phật giáo tại Trung và
Ðông Á, cũng như tìm lại cội nguồn khởi nguyên Phật giáo.
Cho nên không phải chỉ riêng các nhà nghiên cứu lịch sử
Phật giáo hay Ấn Ðộ học mới đánh giá được tầm quan
trọng của các di liệu này đối với lịch sử và văn hoá
Phật giáo cũng như đối với lịcch sử và văn hoá Ấn Ðộ,
mà cả đến các nhà nghiên cứu văn minh thế giới cùng văn
học toàn cầu cũng phải nhận chân rằng sự khám phá kỳ
diệu này mang một ý nghĩa quan trọng cho sự nghiên cứu về
lịch sử và văn chương Ấn Ðộ trong bối cảnh văn minh và
văn chương thế giới.
Các thủ
bản hầu như đã bị tiêu hoại phần nào theo thời gian, lại
được khắc theo cổ ngữ Kharosthì xưa hai ngàn năm, ấy vậy
mà nhờ một kỹ thuật đặc biệt tân tiến, kỹ thuật [hệ]
số (digital technique), cho nên những hình ảnh trình bày trong
tác phẩm Ancient Buddhist Scrolls from Gandhàra thật rõ ràng về
màu sắc, tuy rằng việc giải mã gặp rất nhiều khó khăn.
Công trình của Richard Salomon và các đồng sự là một cố
gắng vượt bậc đáng khâm phục khi trình bày được một
tập sách để giới thiệu sơ bộ hình thức và đại thể
nội dung của các thủ bản vô giá này.
Tác phẩm
Ancient Buddhist Scrolls from Grandhàra chắc chắn sẽ lôi cuốn
rộng rãi những ai quan tâm đến Phật giáo, tôn giáo tỷ giảo
và ngôn ngữ học. Chúng sẽ cung ứng một khung cửa sổ mới
mở hoát ra thời kỳ chủ yếu trong lịch sử Phật giáo tại
Ấn Ðộ. Do đó mà Ðại học Washington đã thiết lập cả
một dự án công phu để thực hành một đợt (series), gọi
là Gandharan Buddhist Texts (GBT), do Ban Tu thư University of Washington
Press [uwpord@u.washington.edu] xuất bản.
Gandharan
Buddhist Texts Series (GBT) và công trình bảo trì di liệu văn
học Phật giáo
Ngày nay
với những thành quả của kỹ thuật hệ số đã giúp Salomon
và các đồng sự của ông khảo nghiệm các di liệu vô giá
vừa được thu tập, cùng việc giải mã và phiên dịch cũng
như bảo trì chúng một cách an toàn.
“Ðiểm
đặc biệt ở đây là chúng tôi không cần phải đụng chạm
đến các di liệu, mà chỉ dùng Adobe Photoshop để thu tập
toàn bộ nội dung của chúng mà thực tế, ngay cả nơi nguyên
bản cũng không đọc được rõ”. Ðó là lời tuyên bố chính
thức của nhóm chuyên gia bảo trì các thủ bản, khi Salomon
và các đồng sự của ông bắt tay vào việc.
Tuy nhiên,
bảo tồn các bản văn này là một công phu đòi hỏi kiên
nhẫn, tỉ mỉ và khéo léo, vì một số cuộn kinh đã bị
gãy nát. Sau một thời giản dài với nhiều kỹ thuật chuyên
môn, British Library đã đóng khung các đoạn phiến (fragments),
tất cả 57 đoạn phiến được bảo trì trong 57 khung kính,
nhiều khung chỉ có một vài chữ, một số lên đến vài trăm
hàng; trong giai đoạn sơ thời, các đoạn phiến này cũng được
chụp lại bằng những hình trắng đen, một phương pháp cổ
điển để các học giả dễ dàng sử dụng khi cần nghiên
cứu đến.
Các đoạn
phiến nguyên bản được đánh số thứ tự, và trưng bày
tại British Library, Luân Ðôn, thủ đô Anh quốc, gọi là British
Library Kharosthì Fragment. Trong khi đó, các ảnh chụp được
Salomon và các đồng sự của ông cũng như các học giả tham
gia khác, sử dụng tại nơi làm việc của họ; trong trường
họp Salomon, tại Ðại học Washington, Hoa Kỳ.
Công trình
đầu tiên của Gandharan Buddhist Texts (GBT 1), là quyển của
Richard Salomon: A Gandhari Version of the Rhinoceros Sùtra; được
Bribtish Library liệt kê là đoạn phiến số 5B (British Library
Kharosthì Fragment 5B); xuất bản vào tháng 10, năm 2000.
Tác phẩm
thứ 2 (GBT 2) là của Mark Allon: Three Gandhari Ekottaragama-type
Sùtras (British Library Kharosthì Fragments 12 and 14), xuất bản
vào năm 2001.
Tác phẩm
thứ 3 (GBT 3) của Timothy Lenz: A New Version of the Gandhari Dharmapada,
and a Collection of Previous Birth Stories (British Library Kharosthì
Fragments 16 and 25); đang soạn, hy vọng sẽ phát hành năm 2002.
Cũng vào
năm này, là quyển thứ tư (GBT 4) do Collett Cox trách nhiệm,
về A Gandhàri Abhidharma Text (British Library Kharosthì Fragment 28).
Như thế, đủ thì giờ để Richard Salomon thực hiện quyển
thứ 5 (GBT 5): A Gandhari Versions of the Songs of Lake Anavatapta (Anavatapta-gàtha),
(British Library Kharosthì Fragment 1), xuất bản năm 2003.
Các tác phẩm
kể trên, cùng với những công trình về sau nữa, luôn chú
trọng đến góc độ lịch sử của Phật giáo, cùng quan điểm
về triết học, ngôn ngữ học, ngữ văn học và cổ tự học
tại Gandhàra đương thời.
Những đoạn
phiến được bảo trì, thuộc trong hơn hai mươi cuộn kinh
khác nhau, có đoạn chỉ một vài chữ, có đoạn dài được
vài trăm hàng, gồm nhiều thể loại khác nhau. Chúng gồm nhiều
thể loại từ những bài thuyết pháp của Ðức Phật cho đến
các bài thi và cả những bản luận giải về nhận thức tâm
lý. “Giá trị của các bản kinh này thật không thể đo lường
được”, Graham Shaw nói. “Chúng sẽ cho chúng ta hiểu biết
thêm phần nào phương cách Phật giáo được truyền thừa
bằng văn tự mà trước đó, chỉ được khẩu truyền mà
thôi”. Sau khi Ðức Phật nhập Niết bàn, giáo pháp của Ngài
được khẩu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác,
đến gần hơn bốn trăm năm sau mới được kết tập lại
thành văn bản. Nhưng các bản văn được kết tập lần đầu
tiên đó, hiện ta chưa tìm được. Các thủ bản được khám
phá mới nhất này, không biết có phải là những bản được
kết tập lần đầu tiên đó hay không, vẫn chưa có thể xác
nhận được. Ðại để, Salomon chia chúng thành các loại:
a. Các bài
chỉnh cú (kệ; gàtha) như dị bản bằng chữ Gandhàri của
kinh Sừng Tê Giác (Rhinoceros Sùtra), mà trong Kinh tạng Pàli
(Sutta-nipata) gọi là Khaggavisana-sutta và Vô nhiệt trì kinh (Songs
of Lake Anavatapta; Anavatapta-gàtha)(3) có những dị bản tiếng
phạn, Hán và Tây Tạng;
b. Các bản
kinh tản văn và luận giải; hiện đang biết là có đoạn
phiến dài của kinh Sangìti-sùtra và phần luận giải mà trước
nay không tìm thấy trong những dị bản khác;
c. Một số
bản văn thuộc Luận tạng (A-tỳ-đàm, Abhidharma) nhưng chưa
được giải mã;
d. một số
lớn các bản văn thuộc thể loại thí dụ (avadanas) không
có bản tương đương nơi các văn bản thuộc những hệ phái
khác trong truyền thống Phật giáo Ấn Ðộ, cho nên có thể
là những sáng tác địa phương hay riêng của hệ phái đó.
Tóm lại,
chỉ có một số ít những đoạn phiến được nhận diện
là có bản tương đương nơi các văn hệ khác như Phạn ngữ,
Pàli, Tây Tạng hay Hán văn, còn phần lớn là chưa hề được
biết đến trong toàn bộ văn chương Phật giáo. Tuy nhiên,
cho đến nay, các thủ bản này vẫn không thay đổi sự hiểu
biết căn bản của chúng ta về triết thuyết Phật giáo. Trái
lại, chúng cho thấy một sự liên tục vững chắc của tư
tưởng đạo Phật từ hai ngàn năm trước cho đến ngày nay.
“Thông điệp
của những thủ bản này cũng vẫn là những lời dạy căn
bản của Ðức Phật: cẩn mật gìn giữ các căn (giữ giới),
từ bỏ những thú vui trần gian (hạnh đầu đà) và tu tập
thiền định để đạt giải thoát (định)”, giáo sư Salomon
giải thích: “Ðấy là những dòng tư tưởng chính của sơ
thời Phật giáo, nằm trong lĩnh vực chung của toàn bộ văn
chương Phật giáo qua các ngôn ngữ khác nhau”.
Thí dụ điển
hình là kinh Sừng Tê Giác (Khiết nga bà sa kinh– Khagga-visana-sutta)
trong Cuộn kinh Gandhàra, mang một thông điệp thật rõ ràng
về hạnh tu khổ hành (đầu đà - dhùta), một pháp tu chuyên
trì giới luật dùng làm căn bản chung cho tất cả các bộ
phái. Trước khi khám phá ra cuộn kinh Gandhàra này thì các
văn bản cổ xưa nhất là bằng Hán tự. Có một số học
giả cũng đã có ý kiến rằng những bản kinh Hán tự này
là được phiên dịch từ cổ tự Gandhàri vào khoảng thế
kỷ II sau dương lịch, nhưng chưa hề có bằng chứng xác thực.
Cho đến bây giờ, một so sánh sơ bộ giữa các bản văn Hán
cũng như Pàli với các bản Gandhàri này cho thấy có những
trùng hợp giống nhau đáng khích lệ.
Early Buddhist
Manuscripts Project (EBMP)
Nghiên cứu
về các tư liệu tương tợ thuộc các công trình thu tập (collections)
khác cũng được tiến hành đồng thời, dưới sự bảo trợ
của “Dự án Nguyên cảo [Kinh văn] Phật giáo Sơ thời”
(Early Buddhist Manuscripts Project – EBMP). Hai công trình đã hoàn
tất theo Dự án này là:
1. Richard
Salomon. “Kharosthì Manuscript Fragments in the Pelliot Collection,
Bibliothèque Nationale de France” đăng trong Bulletin d'Études Indiennes
16, 1998, các trang 123-60.
2. Mark Allon
và Richard Salomon. “Fragments of a Gandhàri Version of the Mahàparinirvana-sùtra
in the Schoyen Collection”, đăng trong Jens Braarvig, ed. Buddhist
Manuscripts in the Schoyen Collection, volume 1. Oslo: Hemles Publishing
các trang 243-73.
Giá trị
của Gandhàra scrolls
Cơ sở để
thẩm định thời gian tập thành các bản kinh văn Gandhàra
này là dựa vào hai bản kinh, trong đó có nhắc đến tên một
tiểu vương Jihonika (Great Satrap Jihonika) và tướng lĩnh Aspavarman
(Commander Aspavarman), hai người này được nhắc đến trong
các bi minh và tiền điếu; họ đã cai trị Gandhàra vào tiền
bán thế kỷ I sau dương lịch. Ngoài ra, các thủ bản này
được bảo trì trong các chậu đất nung, trên mặt chậu có
khắc văn tự Kharosthì, khắc tên hai nhân vật lịch sử là
một đại quan tên Suhasoma cùng phu nhân tên Vasavadatta, hai người
này các bi văn khác cũng có nhắc tới và được xem như sống
đồng thời với hai nhân vật kể trước. Như thế, tuy rằng
ta chưa biết gì về nguồn gốc hay lai lịch của các bản
văn này, nhưng thẩm quyền của chúng đã được chính thức
chứng thực, ấy là chúng được tập thành vào khoảng cuối
thế kỷ I vào đầu thể kỷ II, và như thế là những bản
kinh văn Phật giáo cổ xưa nhất được biết đến.
Pháp Mật
bộ (Dharmaguptavàda)
Những lời
khắc trên các chậu đất nung này là để cúng dường đến
các bậc đại sư của phái Dharmaguptaka (Pháp Mật bộ, một
trong 7 chi phái của Nhất thiết hữu bộ, Sarvàstivàda), cho
thấy các thủ bản cất giấu bên trong cũng thuộc một tự
viện nào đó của Pháp Mật bộ. Ngoài ra, giả thiết
này còn được cường điệu thêm khi so sánh chúng với những
bản kinh tương đương thuộc Pháp Mật bộ đã được dịch
sang Hán văn và còn bảo tồn trong Hán tạng. Ðiển hình là
kinh Tăng già lê (Sangìti-sùtra), được nhắc đến ở trên,
rất giống với bản Hán văn hơn là với những dị bản còn
tồn tại bằng Pàli hay Phạn ngữ. Cũng nên nhắc thêm là
chính Pháp Mật bộ đã tập thành Tứ Phần luật (Dharmagupta-vinàya)
gồm 4 bộ (20, 15, 14 và 11 quyển), do phật-đà-đa-xá (Buddhayasa)
và Trúc Phật Niệm dịch sang Hán văn năm 405, mà hiện nay
các tự viện vẫn chuyên trì.
Như vậy,
các học giả có cơ sở để thẩm định rằng các di liệu
vừa được giải mã tiêu biểu cho một tập văn (textual corpus)
của một tu viện thuộc Pháp Mật bộ (Dharmagupta-vàda) vào
hậu thời triều đại Nguyệt Chi (late Indo-Scythian period). Pháp
Mật bộ là một chi phái của Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivàda),
trường phái này ảnh hưởng ưu việt nhất tại Gandhàra đương
thời. Một vài đoạn trong các di liệu gợi ý cho biết các
kinh văn này có thể là những sao chép lại (copies) từ những
nguyên bản, rồi được chư Tăng bộ phái này làm phép sái
tịnh trước khi đem chôn cất trong các chậu đất nung như
là để lưu tích cho ngàn sau–như thế cũng có nghĩa là chúng
ta còn có hy vọng sẽ tìm được những nguyên bản kinh văn
khác, một điều hy vọng mà nay thật mong manh hầu như vô
vọng vì chính sách tàn diệt văn hóa ngông cuồng của chính
quyền Taliban trong thời gian cầm quyền.
Tuy nhiên,
bấy nhiêu đây cũng đủ để những người tham gia vào Dự
án không phải chán nản trước một công trình có thể nói
là đồ sộ và đòi hỏi nhiều thời gian. “Ðây có phải
chăng là một vài bản tượng trưng được chọn lọc, hay
là có một khuôn mẫu nào đó mà chúng ta chưa khâu xếp lại
được?”, giáo sư Salomon đặt câu hỏi. Ðể trả lời nghi
vẩn này, chỉ còn cách khâu xếp và giải mã toàn bộ 29 cuộn
kinh văn này mà thôi.
Và nếu đúng
là các bản kinh văn thuộc Pháp Mật bộ thì Pháp Mật bộ
chắc chắn phải đóng một vai trò quan trọng và ảnh hưởng
lớn trong thời kỳ sơ thời Phật giáo Gandhàra, lớn hơn là
từ trước đến nay nhận định. Ðiều này cũng phù họp
với địa vị trọng yếu của bộ phái này lúc sơ thời tại
vùng Ðông Á và Phật giáo Trung Hoa. Bởi vì Gandhàra , do vì
vị trí đặc biệt, nằm giữa những ngả đường từ Ấn
Ðộ phân tản về hướng Tây, Trung và Ðông Á, đã giữ một
vai trò quyết định trong tiến trình phát triển và truyền
bá đạo Phật vượt ngoài biên giới quê hương của Ðức
Phật.
Chứng cớ
mới này cũng ủng hộ giả thiết do các học giả cựu học(4)
như Ernst Waldschmidt, John Brough, v.v..., cho rằng một số kinh
điển dịch ra Hán văn không phải là từ nguyên bản Phạn
ngữ mà là từ cổ tự Gandhàri- Kharostthì. Bắt đầu từ
đây, khi sự hiện diện của văn học Gandhàri đã trở thành
là một sự kiện chứ không còn là giả thiết nữa, thì ta
có lý do chính đáng để tin tưởng rằng những thủ bản
mới khám phá được rất là trùng họp với nguyên mẫu (archetypes)
của những bản văn sớm nhất bằng Hán tự. Và như vậy
là chúng đóng vai trò mấu chốt mà từ lâu đã bị thất
lạc giữa Phật giáo tại nguyên quán Ấn Ðộ và những triển
khai về sau tại Trung Hoa cùng những nơi khác của Châu Á.
Khảo sát
sơ thời cho thấy chưa có dấu hiệu nào về sự có mặt của
tư tưởng hay khuynh hướng Ðại thừa trong những bản kinh
văn này. Ðây cũng có thể là vì ngay tại địa thế và hoàn
cảnh của Gandhàra nơi các thủ bản này xuất hiện, thời
đó chưa hiện hữu trào lưu tư tưởng mà sau này được gọi
là Ðại thừa, tuy rằng, với một khảo nghiệm hay phân tích
thâm sâu và rộng rãi hơn, từ nhiều góc độ và kiến giải
về mỗi một bản văn, thì may ra sẽ thâu hoạch được một
chút gì gọi là dấu vết hay ảnh hưởng tư tưởng Ðại
thừa trong những thủ bản này để chúng ta có thể thay đổi
lại ý kiến trước. Hoặc giả có những khám phá khảo cổ
mới, những di liệu nào khác được tìm thấy trong tương
lai, một hy vọng thật mỏng manh, để giúp củng cố giả
thiết về một nguyên ủy tương đối sớm nhất về sự hiện
diện của Phật giáo Ðại thừa tại trung tâm văn hóa Gandhàra
này.
Ðịa điểm
chính thức tìm ra các di liệu này, không ai biết được. Tuy
nhiên, đã có nhiều di liệu cùng loại với chúng được khai
quật được chung quanh vùng Hadda gần Jalalabad, mặc dầu là
chưa có tác phẩm nào xuất bản về những di liệu đó, và
hình như là phần lớn đã bị mất; chúng cũng được khắc
bằng ngôn ngữ Gandhàri và cổ tự Kharosthì (Gandhari languages
Kharosthi script), thịnh hành nhất vào thời kỳ những thế
kỷ III trước dương lịch đến thế kỷ IV sau dương lịch.
Cho nên khai
quật mới này có thể cũng là tại nơi vùng này, nơi từng
là trung tâm nghệ thuật và văn hóa mà chứng tích là vô số
những dữ liệu khảo cổ, nghệ thuật, triết học và bi văn
đã được tìm thấy.
Cần nhắc
thêm lần nữa rằng, mãi cho đến bây giờ, chỉ có một thủ
bản Phật giáo bằng tiếng Gandhàri được biết đến, đó
là bản kinh Pháp Cú được gọi là “The Gandhari Dharmapada”,
do giáo sư John Brough tập thành, và Ðại học Oxford xuất bản
năm 1962(5). Ngoài ra, vào khoảng những năm 1930, Viện Bảo
tàng Guimet tại Paris (the Musée Guimet in Paris) thu tập được
một số cuộn kinh viết trên vỏ cây bulô cũng được tìm
thấy tại Bamiyan, nhưng đấy là lần đầu tiên cho nên nội
dung các cuộn kinh này không bao giờ được công bố: khi các
chuyên gia dùng nhiều kỹ thuật để tìm cách gỡ từng lớp
vỏ ra thì chúng đã vỡ tan thành mảnh vụn, vì quá giòn.
Cùng vào thời gian đó, một số thủ bản Phật giáo được
tìm thấy tại Gilgit, cũng nằm trong vùng Gandhàra, được thẩm
định là vào khoảng thế kỷ thứ IV-V, một số ghi khắc
trên vỏ cây bulô (birch bark), nhưng phần lớn là trên lá bối
(palm leaf) và được gọi là Gilgit Buddhist Manuscripts(6).
Do đó mà
những thủ bản mới vừa được khám phá này là cổ xưa
nhất và sẽ cung ứng cho chúng ta một nhận thức mới về
nội dung và sự hình thành của văn học Phật giáo Gandhàra
mà từ lâu đã được giả thiết nhưng mãi đến hôm nay xa
hơn nữa, các di liệu này sẽ cung ứng cho chúng ta những dữ
kiện sớm nhất để làm cơ sở so sánh khi nghiên cứu nội
dung các kinh khác trong Kinh tạng. Mới 47 tuổi, vào năm 1998,
xem chừng như giáo sư Salomon(*) đã phải an phận vùi đầu
vào các Cuộn kinh Gandhàra này cho đến trọn đời để hoàn
thành công trình thần kỳ là lưu truyền lại cho hậu thế,
ít nhất là hai ngàn năm sau, những gửi gắm trong 3 chậu đất
nung mà hai ngàn năm trước chư Tăng tại Gandhàra đã cẩn
mật truyền trao.
Văn minh
Gandhàra
>Ngay từ
thế kỷ thứ III trước dương lịch cho đến 800 năm sau, Gandhàra
đã là trung tâm hoằng bá quan trọng nhất của đạo Phật,
là thánh địa thứ hai của Phật giáo bên ngoài Ấn Ðộ,
và là cửa ngõ để Phật giáo từ Ấn Ðộ truyền bá sang
Trung Hoa cùng những địa phương khác tại Châu Á. Gandhàra
cũng là địa điểm giao lưu văn hóa giữa Ấn Ðộ với các
nước phương Tây.
Ở vào thời
hưng thịnh nhất, Gandhàra là kinh đô của nhiều triều đại
hùng mạnh và giàu có. Nằm tại bình nguyên sông Haro gần
Islamabad, Taxila – trung tâm chính của Gandhàra – cổ kính
3.000 năm và đã là mục tiêu xâm lược của lãnh chúa Alexander
the Great vào năm 327 trước dương lịch, khi Taxila là thủ phủ
của triều đại Achaemenia uy dũng. Sau đó, Taxila phát triển
đến tuyệt đỉnh huy hoàng dưới thời đại đế A Dục,
thuộc vương triều Maurya, mà những thạch bi (rock edicts) còn
sừng sững khắp nơi trên đất Ấn làm chứng tích. Kế tiếp
là triều đại Cổ Tạng (Kusha) bắt đầu trị vì vào khoảng
những năm 50 sau dương lịch. Từ thời kỳ này cho đến hơn
200 năm tiếp sau đó, Taxila, Peshawar và Swat trở nên trung tâm
lừng lẫy về học thuật, triết học, văn chương, nghệ thuật
và thương mại.
Chính tại
Gandhàra mà một nghệ thuật điêu khắc mới, nghệ thuật
chạm trổ hình tượng Phật, Bồ tát cùng những pho tượng
khác bắt đầu được sáng tạo và hình thành, và được
gọi là nghệ thuật Phật giáo Gandhàra; theo đó, các nhà nghiên
cứu nghệ thuật cho là bị ảnh hưởng phần nào nghệ thuật
điêu khắc Hy Lạp và La-tinh (Greek & Roman). Phê bình này
dựa trên đường nét của khuôn mặt hay những lằn xếp rẩt
nhiều lớp của các y choàng trên những tôn tượng Phật khi
so sánh với các pho tượng Hy-La, những đường nét phong nhã
và nhu nhuyễn hơn, thực tế và đẹp đẽ hơn trước; đặc
biệt là tóc trên đỉnh đầu Phật được làm cho cong quăn
theo như người phương Tây. Ðại biểu là tượng Bồ tát
thế kỷ III hiện đang được trưng bày tại Norton Simon Museum,
hay là các hoa điêu trong những tự viện cổ xưa hiện còn.
Nền nghệ
thuật Gandhàra phát triển đến cao điểm dưới triều đại
vua Ca-nị-sắc-ca (Kanishka) thuộc họ tộc Cổ Tạng (Kushans,
trị vì Gandhàra gần ba trăm năm, 50-300 sau DL). Vua Ca-nị-sắc-ca
(Kaniska, lên ngôi 120 SDL) trước là người của đạo Thờ
lửa (Bái hỏa giáo, Zoroastrianism), sau mới quy y theo đạo Phật;
từ đó, ông thành tâm xiển dương Phật giáo. Và cũng từ
thời này, theo ý kiến một số học giả cổ học, mầm mống
tư tuởng Ðại thừa Phật giáo được manh nha. Các tự viện
cổ kính được trùng tu, nhiều chùa chiền mới được kiến
lập. Ngoài bảo trợ Phật giáo, Ca-nị-sắc-ca còn là nhà
mạnh thường quân của các lĩnh vực nghệ thuật, triết học,
khoa học và văn hóa nữa.
Triều đình
Ca-nị-sắc-ca từng mời thỉnh và bảo trợ các nhà luận
sư vĩ đại như Mã Minh (Ashvaghosha), một thi hào và một nhạc
sư, tác giả bộ luận Ðại thùa khởi tín(7) và Phật sở
hành tán kinh(8); Thế Hữu (Vasumitra), Tổ thứ 7, viết A-tì-đạt-ma
Giới thân túc luận (Abhidharma-prakarana-pàda sàstra);l Long Thọ
(Nagàrjuna) nổi danh qua Trung quán luận (Màdhyamaka sàstra) và
Ðại trí độ luận(9); Charaka, một danh y đã để lại hậu
thế quyển Charak Samhita, dựa trên thuyết y học của Ayur-veda,
v.v... Gandhàra cũng chính là nơi sinh quán của nhà luận sư
vĩ đại Thế Thân (Vasubandhu) sống vào khoảng thế kỷ IV-V,
nổi danh qua các bộ luận Câu-xá (Abhidharma-kosa-sàstra) và
Duy thức (Vijnàptimatràtasiddhi-sàstra).
Nhiều truyền
thuyết huyền thoại về Ðức Phật Thích Ca ghi rằng, khi còn
tại thế, Ngài cũng đã từng đi đến Peshawar, Jelalabad, thuộc
Gandhàra, và có lời tiên tri rằng, “bốn trăm năm sau khi
Như Lai nhập Niết bàn, vua Ca-nị-sắc-ca của họ tộc Cổ
Tạng sẽ dựng tại một ngôi tháp nơi đây, gọi là Tháp
vua Ca-nị-sắc-ca”. Lời này không đúng với lịch sử, vì
vua Ca-nị-sắc-ca sống sau khi Phật nhập diệt hơn sáu trăm
năm; tuy nhiên, quả có một ngôi tháp được tìm thấy tại
vùng Khàh-jì-kì Dherì, nơi mộ vua Kaniska được khai quật
vào năm 1908(10).
Theo đúng
luật vô thường thành-trụ-hoại-diệt của đạo Phật, những
gì hưng thịnh đến tuyệt đỉnh thì rồi cũng phải suy vong,
cho nên sau thời hoành tráng trải dài từ thế kỷ III trước
dương lịch thì đến thế kỷ V, thì rợ Hung-nô nổi lên,
càn quét hầu hết những chứng tích cuối cùng của một nền
văn minh tiếp nối nhau hằng tám trăm năm tại Gandhàra. Thế
là Gandhàra bị tiêu hủy hoàn toàn. Có lẽ chính trong thời
kỳ Pháp nạn này, những vị chức sắc trong Tăng đoàn Phật
giáo tại đây đã có tầm nhìn xa là phải bảo tồn những
lời dạy của Ðức Thế Tôn bằng cách chôn giấu những bản
kinh văn đã được ghi khắc thành văn tự, để lưu truyền
lại cho hậu thế; cũng giống như những công trình bảo tồn
tại Ðôn Hoàng, Vân Cương (Sơn Tây) hay Long Môn (Lạc Dương),
v.v..., ở Trung Hoa.
Ðây phải
nói là những công phu hi hữu, vì làm sao mà hai ngàn năm trước
đây, chư Tăng lại biết là vỏ cây bulô có thể tồn tại
với thời gian để mà sử dụng đến, cũng như loại mực
nào, hay phương pháp ghi khắc thế nào, để bảo đảm những
giáo pháp của Ðức Phật không phai nhòa qua thời gian? Ấy
vậy mà họ đã thể hiện được nguyện vọng đó, bằng
cách là cẩn kính xếp 29 cuộn kinh văn, khắc bằng cổ tự
Kharosthì, và đặt chúng vào trong 3 chậu đất nung, khắc chữ
lên trên rồi chôn giấu chúng gần tôn tượng Phật lớn nhất
tại Bamiyan, nơi mà hai ngàn năm sau, chúng lại được khai
quật để rồi một nhà hảo tâm ẩn danh–hay một thánh hiền
hiện thân?–mang đến hiến tặng Thư viện Anh quốc để
lưu truyền mãi mãi cho ngàn sau.
Ðộng Bamiyan
là một trong những thạch động hùng vĩ nhất tại vùng Gandhàra.
Ðục sâu vào những vách đá cheo leo, ta có thể thấy những
tự viện chen chúc nhau như tổ ong, hai bên là những pho tượng
Phật đồ sộ, sừng sững nhô ra từ trong sườn núi. Ngôi
tượng to lớn nhất, cao 174 feet, tức khoảng 53,3 mét, cho là
được tạc theo trường phái điêu khắc Gandhàra (Gandhàran
style), và có ảnh hưởng nghệ thuật Hy-La, chính là tôn tượng
mà bạo quyền Taliban vừa bắn nát. Toàn vùng nhan nhản chùa
chiền, tự tháp và thạch động với nhiều tranh ảnh, bích
họa (frescoes) và thủ bản (manuscripts). Tất cả đều đã
trở thành cát bụi khi những người cuồng tín cực đoan Taliban
chỉ huy các đoàn thiết giáp thẳng tay tiêu hủy, không phải
là tiêu hủy nền văn minh Phật giáo từng hưng thạnh trên
đất nước họ hai ngàn năm về trước, mà thực ra là tiêu
hủy ngay chính cơ bản văn minh của dân tộc họ đối trước
một tương lai của ít nhất là hai ngàn năm về sau.
Ghi thêm:
Cũng cần nói thêm rằng khi tin tức này được công bố, ngoài
một vài bài báo nghiêm chỉnh đăng tải thông tin này như
Asia Week và The Times, lại có một số “hoạt đầu văn hoá”
vội vã tranh công và tự kể công một cách thiếu tự trọng.
Ðiển hình là bài viết của Susan Sayre Batton đăng trong tạp
chi Asian Arts. Bà huênh hoang tuyên bố là vào mùa thu năm 1998.
có người mang một cuộn kinh viết trên vỏ cây, đến nhờ
bà giải quyết giùm Nên chính bà đã có công khi dùng kỹ
thuật tô dầu lên cuộn kinh, để gỡ các trang ra, sau đó
mới chụp ảnh và gửi sang cho Richard Salomon. Bài đọc qua
xem rất công phu nhưng đã để lộ một sơ hở đáng xấu
hổ: “After being photographed, transparencies were sent to Richard
Salomon, the author of Ancient Buddhist Scrolls from Gandhara, a publication
of the British Library. This book came out in June 1999, six months after
my research and treatment.” Ai người có viết sách một cách
cẩn mật cũng biết rằng không thể chỉ trong 6 tháng mà có
thể vừa giải mã những bản kinh văn cổ tự, vừa viết
bài giới thiệu, vừa in ấn một tích phẩm quan trọng, có
giá trị nghiên cứu và trình bày cách mỹ thuật như Ancient
Buddhist Scrolls from Gandhàra được.
Trong khi đó,
thì sư khám phá ra những Cuộn kinh Gandhàra lại củng cố
và soi sáng thêm tất cả những gì mà học giả Phật gia giả
thiết về giáo lý nguyên thủy của Ðức Phật, cũng như lịch
sử phát triển sơ thời Phật giáo, về những đóng góp vĩ
đại của nền văn minh Phật giáo đối với văn minh nhân
loại.
Chú thích:
(*) Có
thể liên lạc cùng giáo sư theo địa chỉ sau:
Early Buddhist
Manuscripts Project
c/o Prof.
Richard Salomon
Department
of Asian Languages and Literature
University
of Washington
225 Gowen
Hall. Box 353521
Seatle.
WA 98195-3521. USA.
Web –
http://depts.washington.edu/ebmp/
hoặc
website: Early Buddhist Manuscripts Proiect
1. Ðọc
thêm phụ lục 1.
2. Một
copy của tác phẩm này đă hiến tặng Thư viện Viện Phật
học Vạn Hạnh, thành phố Hồ Chi Minh, để làm tài liệu
tham khảo cho độc giả quan tâm đến và nghiên cứu sâu rộng
thêm về vấn đề này. Hồi hướng công đức này đến đ/h
Tâm Ðức. PÐHT.
3. Phiên
âm là A-na-bà đáp-đa, nay gọi là Mànasarovara, tên một hồ
lớn phía bắc dãy Hi-mã-lạp-sơn, phía Nam của Hương sơn
(Gandha-màdana), chu vi rộng khoảng 800 lý, là nguồn nước của
4 sông lớn: sông Hằng (Ganges), Indus, Oxus tại Ấn Ðộ và
Hoàng hà (còn gọi là Sìtà theo Ấn Ðộ) tại Trung Hoa.
4. Từ
thập niên 1970 trở về trước, các Phật học gia phương Tây
như Louis de la Vallée-Poussion, Eitenne Lamotte, Edward Conze v.v..
được xem như thuộc cựu học; bắt đầu từ Richard Robinson
trở về sau, được gọi là tân học, do dùng phân tích và
logic nhiều hơn để thẩm định các văn bản mà nhóm cựu
học đã dầy công tập thành.
5. Brough,
John, editor. The Gandhari Dharmapada. London: Oxford University Press.
1962.
6. Gilgit
Buddhist Manuscripts. ed. by Raghu Vira and Lokesh Chandra. Revised and
enlarged compact facsimile edition. First published in 1959-74. Delhi.
Satguru, 1995. 3 volumes, 3368 lacsimilies.
7. Mahàyàna-sraddhotpàda-sàstrà,
Chân Ðế (Paramàrtha) dịch Hán văn năm 554 và Siksànanda trùng
dịch năm 695-700. D.T. Suzuki dịch sang Anh văn năm 1900.
8. Buddhacarita-kàvya-sùtra,
Pháp Hộ (Dharmaraksa) dịch Hán văn năm 414-421; S.B.E. Beal dịch
Anh văn.
9. Mahàprajnịàparàmità-sàstrà,
100 quyển.
10. Lamott,
Étienne. History of Indian Buddhism from the Origins to the Saka Era.
Tr. by Sara Webb-Boin. Louvain: Université Catholique de Louvain, 1988.
tr. 680.