KHÓA HƯ LỤC
MỘT KIỆT
TÁC PHẨM
CỦA NỀN
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT, THẾ KỶ XIII
HT.Thích
Đức Nhuận
Riêng
đối với Đạo Phật và Dòng Sử Việt, công nghiệp của
vua Thái Tông thật là to lớn. Ngoài việc in kinh, xây chùa,
tô tượng, đúc chuông; về diện văn hóa, vua đã viết Khóa
Hư Lục, một kiệt tác phẩm của nền văn học Phật giáo
dân tộc, thế kỷ XIII. Sách gồm 3 quyển Thượng, Trung và
Hạ, viết theo thể văn biền ngẫu, bằng Hán tự, một lối
văn rất khó viết, ở người cầm bút phải có một trình
độ học vấn uyên bác mới dám sử dụng tới [1]. Về nội
dung cuốn sách tác giả trình bày những tư tưởng triết lý
đại ta Phật giáo, nhắm mục đích tự thức tỉnh mình và
đồng thời có tính cách giáo dục quần chúng, nói lên niềm
thao thức khổ đau cùng sự giác ngộ của một con người
có trách nhệm với mình, với đời và với đồng bào, nhân
loại.
Tác
giả, sau bao năm đối diện với những dằn vật khổ đau
ray rứt của tự thân. Năm vua lên hai mươi tuổi, hoàng hậu
là Chiêu Thánh (Lý Chiêu Hoàng) mới mười chín tuổi, chỉ
vì muộn có con, Trần Thủ Độ bắt ép vua phải bỏ Chiêu
Thánh để lấy người chị dâu đã có mang ba tháng là Thuận
Thiên, vợ của anh mình, tức Trần Liễu. Có lẽ Trần Thủ
Độ muốn vua có con ngay để sau này nối nghiệp nhà Trần.
Hiển nhiên là vua đã kịch liệt phản đối việc làm trái
lễ giáo này của Trần Thủ Độ. Nhưng uy quyền của ông
ta quá lớn. Vua đành nhẫn nhục đau khổ, chịu đựng. Người
con trai hai mươi tuổi mới lớn lên, lòng mang nặng một nỗi
buồn u ẩn, vua đã nhất quyết bỏ ngai vàng ra đi, tìm lên
núi Yên Tử, và xin ở lại đó để tu học Phật Pháp hầu
tìm ra một lối thoát cho tâm tư uất nghẹn khổ đau; mặt
khác, đứng trước tình cảnh rối bời của đất nước lúc
bấy giờ, tuy tâm tư vua chưa nguôi hết nỗi đau buồn, do
người chú họ Trần Thủ Độ gây ra, nhưng trên cương vị
một người lãnh đạo quốc gia, vua không thể nhất đán phủi
tay, buông xuôi, bỏ mặc cho vận nước nổi trôi…, và nhất
là trước sự van nài khẩn thiết của Trần Thủ Độ: "Xin
bệ hạ nghĩ đến trăm họ. Lòng dân như hoa hướng dương,
luôn hướng về nẻo mặt trời mọc, là bệ hạ. Vậy xin
bệ hạ gấp hồi loan [2]. Vua cảm động rươm rướm nước
nắt, rồi cùng các quan trở về kinh sư, gượng lên ngôi báu.
Trong 33 năm trị vì, vua đã làm tròn sứ mệnh của một đấng
quân vương, hết lòng lo sửa sang việc nước: bên trong, bình
trị nội loạn; phía ngoài, dẹp yên xâm lăng. Nhờ vậy mà
toàn dân được sống an vui, hạnh phúc.
Với
trí sáng như mặt trời, và với lòng thì rộng như biển cả,
vua quả là một vị A la hán, một Đại Bồ Tát thị hiện
ở Việt Nam để cứu nước Việt Nam. Nên sau khi đã hoàn
thành sự nghiệp cứu nước, vua nhường ngôi cho con là Trần
Hoảng, tức Trần Thánh Tông. Chắc chắn sau đấy vua có nhiều
thì giờ rảnh rỗi để dồn hết tâm tư vào việc tu niệm,
và viết sách truyền lại cho đời.
Tất
cả nỗi thao thức khổ đau đối với bản thân, đối với
cuộc đời và với lòng từ bi thương xót chúng sinh, vì u
mê tạo nghiệp xấu ác, nên phải luân hồi chìm đắm
trong ba cõi, sáu ngả. Do những ý nghĩ ấy, tác giả đã viết
Khoá Hư Lục, trước hết là để tự thức tỉnh mình trên
đường tu niệm và thực hạnh, nhằm thanh lọc sáu quan năng,
mong đạt đến chỗ "lục căn viên thông", tức là chứng thánh
quả; đồng thời khuyên mọi người nên hướng tâm lên đức
Phật từ bi cao cả và hãy học hỏi giáo lý vô thượng của
Ngài, và lấy đó làm chiếc bè đưa ta qua sông Mê, tới bờ
Giác.
Trước
hết ta tìm hiểu về hai chữ "Khóa Hư" Chữ Khóa (trong Khóa
Hư Lục), theo Hán tự, có nghĩa là bài học dạy về cách
thức tu trì đúng chính pháp. Chữ Hư, nghĩa là rỗng lặng,
tâm luôn luôn thức tỉnh, không chấp vào hình tướng sự
vật một cách giáo điều, cố định. Khóa, tượng trưng tinh
thần hữu vi, minh chính, quả quyết. Hư, tượng trưng tinh
thần vô vi, lồng trong một ý nghĩa: vạn hữu chuyển biến,
khổ, không, vô thường, vô ngã. Hiểu được lẽ sinh hóa
của vũ trụ vạn hữu, là đi vào cõi Niết bàn, bất sinh
bất diệt, là chứng đạo, đạt tới trạng thái chân lý
tối cao. Phật Đà.
Bây
giờ chúng ta hãy đi vào nội dung tác phẩm1.
Quyển
Thượng:
-Lời
Tựa.
-Tứ
Sơn Kệ, và những bài bình giải về cảnh, Sinh, Già, Oám,
Chết.
-Phổ
thuyết Sắc thân, tức nói về thân phận con người trước
cuộc đời.
-Khuyến
phát Bồ đề tâm (khuyên mọi người mở lòng Bồ đề).
-Lời
tựa.
"Xét
đến ngọn nguồn thì tứ đại vốn không, ngũ uẩn (cũng)
chẳng có. Do không khởi vọng, vọng thành sắc; sắc vốn
tự không. Bởi vọng theo không, không hiển vọng; vọng sinh
các sắc. (Một khi) đã trái với lẽ không sinh không hóa,
nên vạn hữu mới có hóa có sinh – Nếu không sinh hóa thời
không hóa, không sinh. Vì có hóa sinh nên có sinh, có hóa –Hoặc
sinh thánh, hiền, khôn, dại, hoặc sinh lông, cánh, vây, sừng,
chìm đắm ở bến mê hoài, lênh đênh trong bể khổ mãi. Lờ
mờ mù mịt, nào có biết chi; luống cuống luồng cuồng, không
sao tỉnh đuợc. Thảy đều do phóng túng cái tâm đi, không
một ai hay quay đầu trở lại. Mặc kệ (cho) đi lại sáu đường;
lên xuống bốn núi. Bốn núi là gì? Tức là sinh, già, ốm,
chết vậy.
Nay
xin bàn rõ bốn núi, để cho sau này cùng noi:
Bài
kệ Bốn Núi
Tứ
sơn tiêu bích vạn thanh tùng
Liễu
ngộ đô vô vạn vật không
Hỷ
đắc lư nhi tam cước tại,
Mạch
kị đả sấn thượng cao phong.
Rừng
cây bốn núi xanh xanh biếc,
Vạn
vật nhìn chung chẳng thực nào.
Vui
tạm, "lừa con ba vó gác"
Gắng
lên… thẳng tới đỉnh non cao.
Bài
kệ trên ngụ ý diễn tả bốn núi với bốn tướng (Sinh,
Già, Oán, Chết) mà mọi sinh vật đều không tránh khỏi. Khi
một sinh vật sinh ra đời, có nghĩa là sinh vật đó đã thoát
được một tướng sinh, (nói cách khác: nếu không sinh, làm
gì có già, ốm và chết, ví như con lừa lúc nằm ngủ giấu
kín một chân); nhưng kia, tức Già, Oám, Chết, nó luôn luôn
rình rập, định cướp đoạt sinh mệnh của mỗi loài… Biết
rằng: mỗi loài hiện hữu trên cõi đời này, là do Nhân duyên
sinh, nên chúng luôn mang trong mình cái lẽ dời đổi, khổ
đau, vô thừơng, vô ngã. Sự tu của người ta vốn thường
hay lười biếng, khác nào con lừa – bản tính nó chậm chạp
– muốn cho nó leo núi thì phải thúc giục nó đi mau. Cũng
như người tu hành phải tử công phu lắm mới mong chứng đươc
đạo quả.
Tầng
Núi Thứ Nhất
"Tầng
núi thứ nhất, tức là tướng "Sinh". Chỉ vì một niệm sai
lầm, cho nên nhiều đường phiền phưc1. Hình hài gửi ở
tinh cha mẹ, thai nghén nhờ nơi khí âm dương. Chùm cả ba "tài",1
có mình đứng giữa; so trong muôn vật, người là khôn hơn.
Chẳng kể chi người trí kẻ ngu, ai không từ buồng thai bọc
trứng; dù trăm họ hay một người cũng thế, thảy đềi khuôn
trong lò bễ thợ trời. Hoặc là vầng nhật biến tướng,
ấy điềm thánh chúa giáng sinh; hoặc bởi bóng sao hiện hình,
ắt có người hiền xuất thế; hoặc kẻ tài hoa lỗi lạc,
ngọn bút quét sạch ngàn quân; hoặc người võ nghệ cao siêu,
sổ công thu hồi trăm trận; hoặc trai tài, lúc ra đường
quả ném đâỳ xe2hoặc gái đẹp, cơn đắc ý nụ cười nghiêng
nướ. Bao kẻ cậy danh khoe sắc, bao người ganh khéo tranh khôn,
xem ra đều trong kiếp luân hồi, rút lại chưa thoát vòng sinh
hóa. Tướng "Sinh" của ng7ời là thế đấy, ví như mùa xuân
trong một năm. Vận "tam dương"3 gặp buổi hạnh thông, cảnh
muôn vật chung màu tươi tốt. Một trời hừng sáng, khắp
xóm làng hoa thắm liễu xanh; muôn dặm phong quang, cả nơi chốn
oanh kêu bướm múa.
Kệ
rằng:
"Chân
tể huân đào vạn tượng thành
bản
lai phi triệu hựu phi manh
chỉ
sai hữu niệm vong vô niệm,
khước
bội vô sinh, thụ hữu sinh.
Tị
trược chư hương, thiệt tham vị,
Nhãn
manh chúng sắc, nhĩ văn thanh
Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật
viễn gia hương vạn lý trình".
Dịch:
(Thiên
địa giao thoa vạn vật thành,
Nhân
duyên hội ngộ sắc4 và danh5
Vì
sai hữu niệm quên vô niệm,
Bởi
trái vô sinh chịu hữu sinh.
Mũi
lưỡi mê hương ưa mùi vị,
Mắt
tai đắm sắc thích âm thanh
Lang
thang khách trọ đời phiêu bạt
Xa
cách quê hương vạn dặm trình.)
Tầng
Núi Thứ Hai
"Tầng
núi thứ hai, tức là tướng "Già". Hình dong dần đổi, khí
huyết đà suy. Mặt thì khô, tuổi lại càng cao, trước còn
nghẹn sau thì vướng mắc. Đầu xanh mà đỏ, đổi thành tóc
bạc da mồi; ngựa trúc áo ban,1 thèm có gậy cưu xe cói2. Dẫu
mắt sáng tựa Ly Lâu, thấy sắc khôn tỏ; dù tai sính như
Sư Khoáng, nghe tiếng khó rành. Thân hình tiều tụy, cành liễu
lúc thu về; nhan sắc điêu tàn, bông hoa thuở xuân hết. Bóng
chiều dần xế, gác nẻo non tây; dòng nước xa nguồn, xuôi
về biể cả. Tướng "Già" của người đó, mùa hạ trong mỗi
năm. Tiết trời nóng, đá kia còn chảy, muôn vật đều khô;
ánh sáng hun, vàng nọ phải tan, trăm sông cũng cạn. Hoa tàn
liễu úa, trong vườn bờ suối cảnh thấy đâu; bướm lả
oanh gầy, dưới lá đầu cành già hiện tới.
Kệ
rằng:
"Nhân
sinh tại thế nhược phù âu,
Tho
yểu nhân thiên mạc vọng cầu.
Cảnh
bức tang du tương hướng vãn,
Thân
như bồ liễu tạ, kinh thâu.
Thanh
điêu tích nhật Phan Lang mấn,
Bạch
biến đương niên Lã Vọng đầu.
Thế
sự thao thao hồn bất cố,
Tịch
dương tây chiếu thủy đông lưu"
Dịch:
Bềnh
bồng sóng nước kiếp con người,
Thọ
yểu nào ai cưỡng số trời?3
Cảnh
đã nương dâu làn nắng tắt,
Thân
như bồ liễu hạt sương rơi.
Phan
Lang thuở nọ đầu xanh mướt!
Lã
Vọng năm nay tóc bạc rồi!
Sự
thế bộn bề thôi ngoảnh lại,
Vầng
hồng gác núi, nước trôi xuội.
Tầng
Núi Thư Ba
"Tầng
núi thứ ba, tức là tướng "Oám". Khi tuổi già lụ khụ, lúc
ốm cần thuốc thang. Tay chân mệt mỏi, đường gân mạch
máu khó thông; khớp xương rời rã, trái gió trở trời dễ
cảm. Trái hẳn với tính chân thường, mất hết cả nguồn
thư sướng. Ngồi đứng khó khăn, duỗi co đau đớn. Tính
mệnh tựa ngọn đèn trước gió; thân hình như bọt nổi trên
sông. Bóng ma vía quỷ, ẩn hiện trong tim; đom đóm chuồn chuồn,
lập lòe khóe mắt. Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước
chữa cho? Sức vóc suy vi, ai là Lư Y1cứu giúp? Bạn bè đã
nhọc công thăm viếng; anh em càng uổng sức nâng dìu. Chứng
liệt giường hàng tháng khôn lành; cơn gục gối mấy tuần
chưa khỏi. Tướng "Oám" của người là thế đấy, ví như
mùa thu trong một năm. Gặp buổi tuyết sương rơi rụng; tới
kỳ hoa cỏ úa tàn. Cây cao rừng rậm, gió vàng một trận
chợt lơ thơ; núi biếc non xanh, móc ngọc vừa sa liền trơ
truị".
Kệ
rằng:
"Âm
dương khiên đức bản tương nhân,
Biến
tác tai truân cập thế nhân.
Đại
để hữu thân phương hữu bệnh,
Nhược
hoàn vô bệnh diệc vô thân.
Linh
đan mạn sá trường sinh thuật,
Lương
dược nan linh bất tử xuân.
Tảo
nguyện viễn ly ma cảnh giới,
Hồi
tâm hướng đạo dưỡng thiên chân"
Dịch:
(âm
dương họa phúc vốn theo nhau,
Gieo
rắc nhân gian nỗi thảm sầu.
Vì
bởi có thân, nên có bệnh,
Nếu
như không xác, ắt không đau.
Phép
tiên, đã mấy ai không chết?
Thuốc
thánh nào đâu kẻ sống lâu!
Xa
lánh cõi ma mau tỉnh thức,
Trên
đường tu đạo, sớm quay đầu)
Tầng
Núi Thứ Tư
"Tầng
núi thứ tư, tức là tướng "Chết". Bệnh ngày càng nặng,
mệnh lúc hầu tàn, tuổi thọ kia luống hẹn trăm năm, tấm
thân nọ chợt thành giấc mộng. Mấy kẻ khôn ngoan lanh lợi,
tránh sao đại hạn tới kỳ? Bao người dũng lực oai hùng
khó gỡ vô thường ập đến. Vợ ngoan, hầu khéo, bỗng trở
thành những vết đau thương; anh thảo em hiền, đành để
lỡ đôi đường chia cách, vật mình lăn đấ, vỗ trán kêu
trời, tường hoa nhà rộng có làm chi? Ngọc chất vàng chồng
vô dụng cả! Dạ đài2 khép kín mít, chợt nghe gió bấc rì
rào; Tuyền lộ3 đóng bít bùng, chỉ thấy mây sầu mờ mịt.
Tướng "chết" của người là thế đấy, ví như mùa đông
trong một năm. Trời đất cùng sao Thái tuế4xoay đã hết vòng;
nhật nguyệt theo ngôi Huyền hư5 hợp vào một mối. Aâm tinh
cực thịnh, một trời mưa tuyết rụng tơi bời; dương khí
dần tan, tám nước6 giá băng tuôn lạnh lẽo".
Kệ
rằng:
"Bãi
đẵng cuồng phong quát địa sinh,
Ngư
ông túy lý điếu chu hoành
Tứ
thùy vân hợp âm mai sắc,
Nhất
phái ba phiên cổ động thanh.
Vũ
cước trận thôi phiêu lịch lịch
Lôi
xa luân chuyển nộ oanh oanh.
Tạm
thời trần liễm thiên biên tĩnh,
Nguyệt
lạc trường giang dạ kỷ canh".
Dịch:
(Lồng
lộng khắp nơi trận gió ngàn,
Ôâng
chài say khướt mặc thuyền lan.
Bốn
bề mây kéo trời u ám,
Một
giải sóng gầm trống giục ran
Tầm
tã cơn mưa bay lả tả
Ì
ầm tiếng sấm nổ lan man
Giây
lâu, tan bụi bầu trời tạnh
Đêm
xuống dòng sông bóng nguyệt tan).
Tác
giả Khoá Hư Lục đã thống thiết nói cho ta rõ về bốn nỗi
khổ: Sinh, Già, ốm, Chết của một kiếp người.7. Thật vậy,
không một đứa trẻ nào lúc mới ra chào đời mà không khóc.
Khóc, là sự báo hiệu một sự nhận chịu nỗi khổ đau ở
đời, một khi con người đã mang lấy nghiệp vào thân. Con
người từ khi sinh ra, lớn lên và sống trong một khoảng thời
gian dài ngắn không nhất định; cuối cùng bao giờ cũng đi
đến cái chết, dù (người ấy) là trai hay gái, da vàng, da
trắng, da đen, thông minh hay ngu tối, đẹp, xấu, sang, hèn,
giàu, nghèo…, tuy có khác nhau về hình thể, nhưng trên danh
nghĩa: mọi con người đều gọi chung bằng một chữ "Người".
Đức Phật dạy: "Con người vốn có Phật Tính và có khả
năng thành Phật". Có điều phật Tính ấy được hiển lộ
– khi con người nghĩ và làm điều thiện – hay bị mờ –
khi con người nghĩ và làm viêc ác – chỉ khác nhau giữa hai
tuyến Mê và ngộ. Con người, theo Đạo Phật, thường được
đề cao một cách toàn triệt, vì con người có năng lực trí
tuệ bén nhạy hơn hẳn muôn loài vạn vật; mà các sinh vật
khác chúng thường sống theo bản năng. Do đó, con người có
thể tiến hóa để trở nên những nhà bác học, vĩ nhân,
hiền triết, bậc thánh, và cũng rất dễ sụt luì, sa ngã,
đắm chìm trong ba ngả, sáu đường, để nhận lấy cái Nghiệp
hoặc "thiện" hoặc "ác" do chính mỗi người đã tạo từ
kiếp trước hay kiếp này và liên hệ ở kiếp mai sau. Nói
cách khác, "Loài người có thể tiến hóa đi lên, nhưng cũng
rất có nguy cơ bị đào thải, vì không có gì bảo đảm rằng
loài người tất yếu tiến hoá tốt".
Ca
dao Việt Nam có câu:
"Lênh
đênh qua cửa thần phù
Khéo
tu thì nổi, vụng tu thì chìm".
Vì
ý thức được nỗi khổ đau của kiếp người, nên tác giả
khóa Hư Lục, trong bài "PHỔ THUYẾT SẮC THÂN", đã khuyên
chúng ta hãy luôn luôn thức tỉnh:
"Các
người ơi! Thân là gốc mọi sự khổ (mà) chất là nhân của
cái nghiệp. Nếu cứ lấy thế làm thật, tức là nhận giặc
làm con. Người nên xem lại kỹ càng: Chỉ vì cái sắc thân
này, trước khi đầu thai làm người, do nghiệp lực duyên
khởi, ngũ uẩn hợp thành, mà vọng sinh ra thể mạo, giả
hiện ra hình dong, quên cỗi gốc thực, hiện hão huyền
xằng. Hoặc gái hoặc trai, hoặc đẹp hoặc xấu, đều là
phóng tâm đi mất, tịnh không lui gót trở về. Giong ruổi
vào đường sinh tử, bỏ quên bản tính thuần nhiên. Bởi
thế chỉ nhìn ngoài mặt, không đoái trong thân. Lúc sinh ra
chỉ theo lẽ hóa sinh, sống trong cảnh mộng, nói chuyện mộng
ảo. Rập rờn cuồn cuộn, bối rối loay hoay. Lấy "ảo" làm
"chân", trái "không" theo "sắc". Bộ xương khô cài hoa điểm
ngọc, túi da bẩn xoa xạ ướp hương. Cắt lương the bọc
bao máu mủ, nhào son phấn bôi thùng phân dơ. Ngoài dù trang
điểm như thế, trong vẫn nhơ bẩn gớm ghe. Không biết tự
xét sượng sùng, lại cứ quyến luyến thân đó.
"Các
người ơi! Dường như tượng gỗ máy quay, chỉ cậy sợi
tơ lọi kéo. Quanh đi quanh lại, cũng cùng lối sinh; khi phóng
khi thu, khác gì xác chết. Lại còn tính thiệt suy hơn, đều
bởi sáu căn ganh lộn. Chẳng lo già, ốm, chết theo, chỉ mãi
tửu, sắc, tài mãi. Tranh giành những cái nhỏ nhặt, mà bó
buộc trong vòng danh lợi. Ban ngày hết sức cầu may; buổi
tối hóa ra tưởng mộng. Chất chứa bợn nghiệp như giếng,
biết đâu mái tóc tựa sương. Một mai mắc bệnh nặng nề;
trăm năm đều về mộng lớn. Tim gan đau xót tựa mối oán
thù; da thịt hao mòn khác chi ma đói. Vẫn còn muốn sắm lễ
vật cầu đảo cho sống lâu, không biết rằng giết loài vật
là tổn sinh. Những mong một đời trường thọ như tùng bách,
có biết đâu tứ chi khác nào nhà dột. Hồn vía tạm về
lối quỷ; xác thây còn bỏ cõi người. Tóc, lông, răng, móng
chưa kịp tiêu; rớt, rãi, bọt, hơi đã thấy ứa. Thối nát
chảy máu chảy mủ; tanh hôi xông khắp đất trơì. Đen rộp
mắt chẳng dám nhìn; xanh xùi cũng đều chết mất. Để trong
nhà thì làm tổ cho trùng; bỏ ngoài đồng thì làm mồi cho
quạ. Người đời đều bịt mũi mà qua; con hiếu phải lấy
đất mà lấp. Thu nhặt thịt xương, chôn đi hài cốt. Quan
quách phó mặc cánh đồng ma trơi; nấm mộ chôn nơi núi non
hoang vắng. Xưa kia tóc mướt má hồng; ngày nay tro tàn xương
trắng. Khi mưa lệ tưới mây mờ mịt; lúc gió sầu lay chuyển
mơ màng. Canh tàn thì quỷ khóc thần sầu, lâu năm thì
ngựa quần trâu phá. Lửa đóm lập lòe trong cỏ rậm, tiếng
dế rên rĩ ngọn dương trơ! Bia kỷ niệm nửa mờ rêu phủ,
kẻ mục tiều dày đạp đường ngang. Xưa kia dẫu văn chương
hơn chúng, hay tài sắc nghiêng thành, đến đó thì chẳng ai
hơn ai, chung qui người nào cũng thế. Mắt bị sắc lôi về
rừng kiếm. Tai nghe tiếng dẫn đến non dao. Mũi thường ngửi
híy khói hôi tanh. Lưỡi phải nếm ăn viên sắt nóng. Giội
nước đồng sôi thân co quắp, bỏ vào vạc nấu ý chua cay.
Trăm năm trong cõi người ta, một ngày cõi ngục kể đã dài
ghê! Nếu ai có mắt tinh đời, phải kíp hồi tâm xem lại,
hòng cất mình vượt qua bể sinh tử; dang tay xé toạc lưới
ái ân. Chả nề trai gái, ai cũng nên tu; chẳng cứ trí ngu,
đều có phận cả. Nếu chưa đạt được tâm Phật ý Tổ;
trước hết hãy trì giới tụng kinh. Nhưng đến khi ngộ được
Phật cũng không mà Tổ cũng không thì làm gì còn có giới
để trì, kinh để tụng? Lúc ấy thân tuy ở trong cảnh giới
ảo sắc mà như đã ở trong cảnh giới chân sắc (vì ảo
sắc cũng là chân sắc), ở trong phàm thân mà kỳ thực là
ở trong pháp thân. Phá sáu giặc (lục tặc) thành sáu thần
thông; biến tám khổ ra tám tự tại. Tuy nói như thế, nhưng
người ta đã có cái sắc thân này, thoát ra cũng là khó lắm.
"Các
người ơi! Chỉ mong chu toàn cái sắc thân ấy thì làm sao
mà thoát ra được. Nếu chưa thoát được, xin hãy lắng nghe:
Vô
chân nhân thịt đỏ lòm,
Rõ
ràng trắng đỏ rõ ràng nom.
Ai
hay mây cuốn trời quang sạch,
Ánh
biếc bên trời một dạng non.
Oâi!
Đời chỉ biết vàng là quý, nhưng xét kỹ đến chỗ khinh
trọng thực không bằng mệnh người được. Ví dụ như một
nhà giàu kia: lên làm quan đại tướng, dùng vàng giát vào
áo giáp để hộ thân, đến khi chiến trận, đang lúc đao
binh giao tiếp, có khi phải cởi giáp vứt gươm mà chạy, chỉ
mong cho toàn một thân thôi, còn áo giáp vàng kia rồi đâu
nhìn đến, thế mới biết vàng tuy là trọng, cũng không thể
ví với mệnh người được, là nghĩa thế đó. Nay không hiểu
thế, lại quí vật mà rẻ thân, chẳng biết thân mình có
ba điều khó gặp được. Những gì là ba? Một là: Ở trong
sáu đường, chỉ người là quí, đến khi tinh lạc về âm,
tối tăm mờ mịt, chẳng biết đường đi. Hoặc vào những
ngả: địa ngục, A tu la, súc sinh, ma đói, chẳng được làm
người, ấy là một điều khó gặp đó. Hai là: Tuy được
làm người, sinh nơi mọi rợ, tắm cùng một vũng, ngủ cùng
một giường, sang hèn ở lẫn, trai gái nằm chung, chẳng đượm
gió nhân, không nhuần phép thánh, ấy là hai điều khó gặp
đó. Ba là: Đã được sinh nơi văn hóa, sáu căn chẳng đủ,
bốn thể không toàn, mù điếc ngọng câm, thậm thọt còng
ưỡn, miệng mũi tanh hôi, thân hình thối loét, thầy chẳng
cho tới, chúng chẳng dám gần. Tuy ở trong nơi thanh lịch,
cũng như ngoài cõi hoang cùng. Ấy là ba điều khó gặp đó.
"Nay
được làm người, sinh nơi văn hóa, sáu căn toàn vẹn, há
chẳng quí sao? Khắp mặt người đời, cứ mải miết trong
vòng danh lợi, làm nhọc cả xác, mà thương cả thân. Thân
mệnh là rất trọng mà nỡ bỏ, của cải rất khinh mà lại
chăm. Ví với bọn ăn bánh quên vợ, ngậm cơm quên mép, có
khác gì không? Thân mệnh tuy là chí trọng thật, song cũng
chưa trọng bằng chí đạo vậy. Thế cho nên Khổng Phu Tử
có câu rằng: "Sớm nghe đạo, tối chết cũng cam". Lão Tử
thì nói: "Ta có sự lo lớn vì ta có cái thân". Đức Thế
Tôn cầu đạo xả thân cứu khổ, thế chả phải là ba đấng
thánh đều khinh thân mà trọng đạo đó ư? Than ôi! Thân mệnh
là rất trọng mà còn nên bỏ để cầu lấy đạo Vô Thượng
Bồ Đề, phương chi vàng ngọc châu báu là vật rất khinh,
tiếc làm gì nữa? Oâi! Trong ấp mười nóc nhà còn có người
trung tín, nữa là khắp mặt người đời, lẽ nào lại không
có ai thông minh sáng suốt hay sao?
"Nếu
nghe lời này, phải nên chăm học; đừng có ngờ chi. Kinh có
câu rằng: 'Một mất thân người muôn kiếp chẳng lại" đáng
đau đớn biết bao! Khổng Phu tử nói "Người mà không chịu
làm, ta cũng chẳng làm sao được" chính là thế đó".
Va
tác giả đã kết thúc quyển thượng bằng một bài "Phổ
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm" nhằm khuyến thỉnh mọi người
hãy phát tâm Bồ đề để tạo sự tốt lành cho chính bản
thân và làm đẹp cho xã hội.
"..Chẳng
cứ đại ẩn, tiểu ẩn, chẳng kể tại gia, xuất gia, nếu
biết phản chiếu hồi quang thì ai ai cũng có thể kiến tính,
thành Phật. Hơn nữa, thân người dễ mất, đạo pháp khó
có dịp may để gặp, nếu muốn thoát khỏi vòng lục đạo,
duy có đạo Nhất Thừa là con đường tắt dành cho mọi người
cùng đi vào. Khi đã có được chính kiến, (cần phải tránh)
đừng nên tin nhảm ở bọn tà sư. Ngộ rồi thì ra vào tự
tại, tu được là thoát vòng tử sinh".
"Núi
kia thấp xuống trông trời rộng
Sen
nọ trổ bông thoảng nươc1 hương…"
Quyển
Trung và Hạ gồm các nghi thức tu niệm mà hành giả phải
thực hiện trong 6 THỜI KHÓA MỖI NGÀY, nhằm mục đích thanh
tịnh hóa 6 quan năng. Mọi tội lỗi mà con người mắc phải
(nguyên nhân) là do 6 quan năng tiếp xúc vơ81I 6 trần cảnh,
rồi khởi vọng tâm ham muốn (tham), sân hận (Sân), si mê (Si)
v.v..
Trong
"Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi" tác giả trình bày lý do vì sao
cần phải sám hối, và sám hối có những lợi ích gì. Sám
hối, không có gnhĩa thuần túy như người ta thường hiểu
lầm là xin kể tội với Phật để cầi Phật tha thứ, mà
đích thực là sự tự nhắc nhở mình phải luôn luôn thức
tỉnh. Vì tội vốn không có tự tính, chẳng qua do nah6n duyên
phối hợp 6 quan năng tiếp xúc với 6 trần cảnh khiến cho
vọng tâm điên đảo phát sinh. Nó đã bởi nhân duyên mà sinh
khởi. Thì nó cũng bởi nhân duyên mà tiêu diệt.1
Nguyên
văn bài tựa LỤC THỜI SÁM HỐI KHOA NGHI:
"…
Sự đi lại dưới sông trên đất được tiện lợi là nhờ
có thuyền xe; những bụi nhơ trong thân tâm được tẩy sạch
là do ở lễ sám. Muốn rửa sạch bụi nhơ nơi thân tâm mà
không dùng đến lễ sám, khác gì muốn tiện lợi đi lại
mà không dùng đến thuyền xe?
"Nên
biết công dụng của sự lễ sám thật là lớn lao. Trong kinh
Đại Tập có nói: "Như chiếc áo bẩn trăm năm, có thể chỉ
trong một ngày giặt được tươi sạch. Như vậy, những "nghiệp
bất thiện" của trăm nghìn kiếp hợp lại, nhờ vào Phật
lực và khéo suy xét thuận theo, có thể nội trong một ngày,
một giờ, tiêu diệt được hết". Vả chăng chúng sinh vốn
có tính hiểu biết rất là trong sạch, tròn sáng, lồng lộng
như bầu thái hư, mảy bụi không thể bám dính; chỉ vì cái
"bóng sai lầm" ánh tới, hòn đất dơ bẩn hiện lên, thành
ra có "năng", "sở" chia cách, Phật và mình khác nhau, "căn"
và "tính" chia ra thành nhánh, trí và ngu tách làm hai ngả. Nếu
bảo họ bằng một cửa, khó lòng khiến họ giác ngộ mà
đi vào. Cho nên đức Phật ta rộng nguyện đại trí, mở cửa
phương tiện, vạch đường chỉ lối, tùy bệnh cho thuốc.
Biết rằng cái "dơ ảo huyễn" của chúng sinh đều do ở sự
sai lầm mà ra, nên cần phải một lòng tinh thành, qui y lễ
sám, khiến cho thân tâm trở lại trong sạch như xưa, ví như
gió im sóng lặng, bụi hết gương sẽ trong. Là vì tâm xấu
ác trước kia dấy lên chỉ như làn mây che lấp vầng trăng,
mà tâm thiện sau đó được nảy nở thì như bó đuốc soi
vào bóng tối vậy. Công dụng lớn lao của phép lễ sám cũng
như thế đó. Trẫm nhờ lòng trời yêu mến, được ở ngôi
vị chí tôn, việc dân khó khăn, việc nước bề bộn, bên
ngoài bị cảnh phồn hoa cám dỗ, bên trong bị ham muốn khiến
xui, miệng chán cao lương, thân đầy vàng ngọc, tai mắt phục
dịch cho sắc đẹp tiếng hay, thân thể ở trong lầu cao nhà
rộng; lại thêm vận đời kiêu bạc, cõi người suy hèn, kẻ
học lờ mờ, căn lành yếu mỏng, ngày thì bụi trần rối
rít, lưới nghiệp bủa vây, đêm nằm ngủ trùm che, nút lười
thắt buộc, ngày đêm bận bịu, hết thảy là những trò gây
vạ chiêu tai. Trẫm đã suy nghĩ về những việc đó mà lòng
thương cảm bồi hồi, quên ăn quên ngủ. Nhân khi chính sự
được rảnh, xem khắp kinh luận và các nghi văn, bèn soạn
thành một tập hầu làm khuôn phép "tự lợi, lợi tha" để
bảo cho đời. Ngẫm kỹ bao nhiêu tội nghiệp tích lại, đều
do sáu căn gây ra, đến như Đức Thích Ca khi chưa thành Phật,
trước hết phải vào núi Tuyết tu khổ hạnh sáu năm, đó
cũng là vì muốn ngăn che sáu căn vậy.
"Trẫm
phỏng theo ý đó, chia sáu căn làm sáu giờ, mỗi giờ lễ
sám một căn. Trẫm lại tự chế ra các nghi văn, gọi là "Lục
Thời Lễ Phật Sám Hối Khoa Nghi" Sợ văn rườm rà thì việc
sám hối trễ lười, mà nói xa xôi thì nghi ngờ theo đó nảy
ra, cho nên ở đây không dùng những lời phù hoa, chỉ cốt
làm cho gọn quyển, khiến kẻ tụng đọc đều vui và người
nghe dễ hiểu, ngõ hầu bọn có lòng tin, có thể ngày đêm
phát tâm chí thành, dùng khoa nghi này mà sám hối với đấng
mình lễ, ấy là không phụ điều "tự lợi, lợi tha" mà trẫm
hằng mong mỏi. Những ai sáng mắt sau này, chớ vì văn pháp
mà cười. Dù thế,
"Vì
SEN sớm nở nơi cung thắm,
Nhộn
nhịp oanh vàng rặng liễu xanh"1
"Lục
Thời Sám Hối Khoa nghi vốn là một phương tiện cảnh tỉnh
tâm hồn, không hơn không kém. Sự cảnh tỉnh này được thực
hiện trong mọi mặt, (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và
vào mọi lúc trong ngày (tang tảng sáng, buổi trưa, buổi chiều,
buổi nhá nhem, buổi tối, buổi quá nửa đêm).
"Tự
nhắc nhở về tính chất vô thường, bất tịnh và hư giả
của cuộc đời không phải là để buồn nản buông xuôi mà
là để dốc lòng tinh chuyên thực hiện sự đạt ngộ. Lục
Thời Sám Hối Khoa Nghi đã được vua ngự chế để thực
hành sám hối một ngày sáu lần, có lẽ trong những ngày ít
bận rộn việc triều chính và có lẽ cả ở chùa Phổ Minh
hay Chân Giáo. Khoa nghi chia làm sáu phần, để thực hành sáu
lần trong ngày. Mỗi lần lâu khoảng 20 phút. Nghi thức gây
tác động cảnh giác rất cao và rất tha thiết: sám hối ở
đây không phải là xin tội với Phật mà là gạn lọc và
thức tỉnh tự tâm. Vào thế kỷ thứ sáu vua Lương Võ Đế
bên Tàu cũng có ngự chế một nghi thức sám hối tên là Từ
Bi Đạo Tràng Sám Pháp, mười quyển, những là để nhờ các
vị tăng sám hối cho bà hoàng hậu đã vì sân si mà nhảy
xuống giếng chết để sau trở thành một con độc long. Nghi
thức này sau được gọi là Lương Hoàng Sám. Người ta nói
rằng sau khi các vị tăng sám hối xong thì hoàng hậu được
siêu thăng và về báo mộng cho vua hay. Trong trường hợp vua
Thái Tông, ngài không ngự chế để xin tội cho ai khác. Chắc
chắn những hành động của Trần Thủ Độ, như ép Lý Huệ
Tông tự tử, giết tôn thất nhà Lý, giết hết binh sĩ theo
Trần Liễu làm loạn ngoài sông Cái, ép vua lấy chị dâu đã
có mang… đã đè nặng trên trên tâm tư Thái Tông, và những
khổ đau này có dự phần vào động cơ sáng tác sám pháp.
Nhưng các tội lỗi trên, Thái Tông không nghĩ là của riêng
Trần Thủ Độ mà là tội lỗi của cả gia đình và dòng
họ, là tội lỗi của chính mình. Tuy vậy, suốt sáu nghi thức
sám hối, ta thấy nhu yếu cầu sám thì ít mà nhu yếu thức
tỉnh và tinh chuey6n thì nhiều.Sám pháp ở đây được thực
dụng như một phương tiện yểm trợ thiền định, gạn lọc
nội tâm, tạo nên trạng thái thao thức của sự cảnh giác.
"Mỗi
nghi thức bắt đầu bằng một bài kệ cảnh giác, rồi đến
lễ dâng hương, một bài kệ dâng hương, một bài kệ dâng
hoa, một bài trần bạch có tác dụng cảnh giới, một bài
văn sám hối, một bài kệ khuyến thỉnh, một bài kệ tùy
hỷ, một bài kệ phát nguyện, và cuối cùng là một bài kệ
Vô Thường. Lời văn rất diễm lệ, hình ảnh rất phong phú,
tư tưởng rất sâu sắc. Sáu nghi thức là sáu hòn bích ngọc:
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi của Trần Thái Tông là một sám
pháp gọn gàng, thực tiễn và đẹp đẽ và thực dụng hơn.
Không biết tại sao ở các thiền đường xứ ta, sám pháp
vua Trần Thái Tông lại được rất ít người sử dụng trong
khi các sám pháp Lương Hoàng, Dược Sư, Thủy Sám lại rất
phổ thông…!"1 (Sđd, trang 279, 280).
Trong
sáu thời khóa lễ, mỗi khóa có những nghi thức khác nhau.
Ngoại trừ các bài kệ Dâng Hương, Dâng Hoa, Khuyến Thỉnh,
Tùy Hỷ, Hồi Hướng là có tính cách đồng nhất, vì là kệ.
Còn những bài văn khác như: Khải bạch, Sám Hối, Phát nguyện…
tuy có chung một tiêu đề nhưng, về nội dung, mỗi bài văn
magn những tâm tư ý nghĩa khác nhau.
Khóa
Lễ Sám Hối Lúc Nửa Đêm2
Bài
KỆ VÔ THƯỜNG:
"Muôn
tiếng vừa yên lặng
Canh
ba trống mới hồi
Tiếng
quốc kêu thảm thiết
Giấc
bướm vẫn miệt mài
Kiến
lẩn cây hòe mục
Cá
ngoi mặt nước bơi
Không
coi vầng trăng mọc
Những
mến đóa hoa cười
Lạc
nhà xa ngàn dặm
Giấc
ngủ vẫn tham hoài
Chẳng
biết thân là giả
U
mê suốt một đời".
LỄ
DÂNG HƯƠNG LÚC QUÁ ĐÊM:
Phục
dĩ: Chuôi sao quay bắc, sông hán về tây, giấc bướm bên gối
còn say, tiếng ốc trên lầu đã dứt. Sắp hàng tăng chúng
tới pháp đàn, trước tương Thế Tôn dâng hương báu.
Hương
này trồng ở cung trăng đem lại, rễ ăn trong núi quấn quanh.
Dáng màu khác tục, thể chất vô trần, xa vượt "thước đầu"
nước Ngô nọ, cao hơn "qui giáp" rừng quế kia. Đốt lên tắt
ngay lửa giận, xông ra nhờ trận gió Từ, nào phải giống
thơm hạ phẩm, thực là mùi lạ thượng phương. Mảnh khảnh
như tơ hồng khí đẹp, ngạt ngào mùi tốt hóa điềm lành,
nghi ngút trước nơi bảo tọa, tờ mờ ngoài chốn rèm châu.
Quay đầu tìm kiếm, quang minh nơi đó tự nhiên sinh; thấy
mặt ngát mùi, tịch diệt bởi đây thân chứng được. Nay
buổi quá đêm, đốt hương dâng cúng.
BÀI
KỆ DÂNG HƯƠNG:
:Hương
này lấy ở rừng thiên,
Trồng
trong tuệ uyển thiên nhiên ngạt ngào
Giới
đao vót hình núi cao,
Đốt
lò tâm nguyện muôn sao cúng dường"
BÀI
KỆ DÂNG HOA:
"Hoa
tâm nở màu tốt tươi
Mùi
thơm sực nức hoa trời kém xa
Trước
Phật, xin dâng đóa hoa
Muôn
thu gió nghiệp khó mà chuyển lay".
KHẢI
BẠCH
Kính
tâu: "Đại giác thập phương, Hùng sư tam thế. Rót cam lồ
cứu kẻ cơ hàn; cầm thần châu soi nơi tăm tối. Trộm nghe,
sâu kêu năm dạo, gà giục ba hồi. Bóng đuốc tiệc mồi hồ
tàn hết; ánh sao ngân hán đã lặn rồi. Giấc điệp lại
quay về thế mộng; tiếng chuông khua tan chốn âm thầm. Trăng
mờ vừa ngậm vành non biếc; trời hồng chưa nhô mặt bể
xanh. Tiếng sâu tường cổ gấp kêu; vó ngựa đường quai
mới động. Đầu thành mịt mù khói nhạt bay; ngoài trời
lả tả sương mờ tỏa. Chính là lúc đạo sĩ triều chân;
vừa giữa buổi tăng già hành đạo. Nghìn nhà muôn họ cửa
còn đóng; một đêm sáu dạo công đã thành. Đường thế
mịt mùng; quần sinh tất tả. Tuy kinh giấc ngủ ôm gối nằm;
chửa tỉnh trọn đời mở mắt dậy. Các con Phật ơi! Nếu
cứ suốt đêm chơi túng tứ, thì thấy trọn ngày tâm tối
tăm. Đến nỗi chằng trói một đời; đều do vẩn cơ hai
chữ. Vì ngươi chỉ mở tia sáng soi, để lại sau này mà tự
xét. Nên biết mệnh người vô thường, chớ để lúc này
lỡ mất. Di Đà thấy rõ trong tâm; tịnh độ hiện nagy trước
mắt. Nếu hay đảm đang nhận lấy, liền được hiện tiền
tức thì. Vậy bọn chúng con kính cẩn bây giờ làm lễ quá
đêm".
SÁM
HỐI NGHIỆP Ý CĂN
"Dốc
lòng sám hối, bọn chúng con từ bao nhiêu kiếp tới nay, bỏ
mất bản tâm, không biết chính đạo, đọa ba đường khổ,
bởi sáu căn sai, trước chẳng hay sám hối, sau khó mà ăn
năn. Nghiệp Căn Ý là: nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,
mắc mưu tình trần, lấp tâm chấp tướng, như tằm kéo kén,
càng buộc càng bền; như ngài vào đèn, tự thiêu tự đốt,
tối tăm không tỉnh, nghiêng ngửa sinh xằng khuấy rối tấc
lòng, đều do tam độc.
1-
tội keo tham là: mưu ngầm ghen ghét, keo cú vơ vào; mười vốn
nghìn lời, còn cho chưa đủ; tiền như nước chứa, lòng tựa
chén dò; rót vào lại hết, vẫn nói chưa đầy. Tiền mục
thóc vàng, không cứu đói rét; lượt chồng là súc, nào có
giúp cho; được người mấy trăm, chưa nói là nhiều; hại
mình một đồng, làm như hao lơn1, trên từ của quí, dưới
đến tơ gai, kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí. Biết
bao nhiêu sự, ngày tính đêm lo, khổ tứ lao thần, đều do
tham nghiệp.
2 tội
sân nộ là: lấy tham làm gốc, lửa sân bốc cháy, quắc mắt
quát to, đốt thương hòa khí, không những kẻ tục, cả đến
chúng tăng; kinh luận bàn pha, cùng nhau công kích, chê cả sư
trưởng, nhiếc đến mẹ cha; héo lá úa cành, nồng nàn lửa
độc; buông lời tổn vật, cất tiếng hại người; không
nghĩ từ bi, không theo luật cấm; bàn suông tựa thánh, tới
cảnh như ngu; dẫu ở cửa Không, chưa thành vô ngã; mồi cây
sinh lửa, lửa cháy đốt cây, những lỗi như thế, đều bởi
nghiệp sân.
3.
Tội ngu si là: tính căn ngu độn, ý thức tối tăm, không biết
tôn ti, không chia thiện ác, giết gấu gãy tay, chặt cây đau
xác; nhiếc Phật chiêu tai nhổ trời ướt mặt; quên ơn quên
đức, bội nghĩa bội nhân; không xét không hay, đều vì si
nghiệp. Những tội như thế, rất nặng rất sâu; đến khi
chết rồi, đọa vào địa ngục; trải ngàn ức kiếp, mới
được thác sinh; duc thác sinh, bị báo ngoan ác; nếu chẳng
sám hối, sao được tiêu trừ. Nay đối trước Phật, đều
xin sám hối."
BÀI
KỆ KHUYẾN THỈNH:
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Các
đấng Bồ Tát, Thánh Hiền Tăng
Xin
rủ lòng thương cứu chúng sinh
Độ
cho hết thảy… sang bờ Giác.
BÀI
KỆ TÙY HỶ:
Con
nay vui vẻ xin theo Phật
Hôm
sớm tu hành diệt tội xưa
Ngôi
Thập Địa, con xin bước tới
Bồ
đề đạo quả nhập "vô dư".
BÀI
KỆ HỒI HƯỚNG:
Chúng
con hồi tâm qui đạo chính
Cúi
đầu kính lạy Đức Từ Bi
Nguyện
đem phúc báo tới muôn loài
Nhờ
nhân tốt ấy thành chính giác.
Con
chí thành kính lễ Phật Pháp Tăng ở khắp mười phương và
xin dốc lòng pháp nguyện:
Nguyện
nguồn linh thường vẳng lặng
Nguyện
tạng thức thoát ưu phiền
Nguyện
mọi mối ngờ chấm dứt
Nguyện
trăng thiền sáng vô biên
Nguyện
ngã, pháp trần bất nhiễm
Nguyện
lưới ái sạch phan duyên
Nguyện
tu chứng ngôi Thập Địa
Nguyện
sớm vượt cõi tam thiên
Nguyện
tâm viên hết quất nhiễu
Nguyện
ý mã sạch triền miên
Nguyện
nhất tâm truyền chính pháp
Nguyện
ưa mộ đạo tham thiền
BÀI
KỆ VÔ THƯỜNG:
"Trống
pháp dạo tan phù thế mộng,
chuông
chùa khua động khắp gần xa.
Vẫn
ham giấc ngủ đang mài miệt;
Chẳng
quản vầng đông đã chói lòa.
Dằng
dặc đêm trường còn có sáng;
Mịt
mù lối quỷ khó tìm ra.
Nay
không cố gắng công tu đạo,
Ngày
khác làm sao gặp Phật Đà".
BÀI
KỆ KHUYÊN MỌI NGƯỜI:
(thay
cho lời kết)
"Sinh,
lão, bệnh, tử
Lý
chi thường nhiên
Dục
cầu giải thoát
Giải
phọc khiên triền
Mê
nhi cầu Phật
Hoặc
nhi cầu thiền
Thiền
dã bất cầu
Đỗ
khẩu vô ngôn".
(Sinh,
già, ốm, chết,
Lẽ
thường tự nhiên.
Muốn
cầu giải thoát,
Lại
càng rối ren.
Mê
mà cầu Phật,
Hoặc
mà cầu thiền.
Thiền
không cầu nữa,
Ngậm
miệng ngồi yên.)
Khóa
Hư Lục, quyển Trung và Hạ, chấm hết bằng tám câu kệ trên
đây.